Cấu tạo từ tiếng Việt: từ đơn, từ ghép, từ láy và cách nhận diện
Cấu tạo từ tiếng Việt: tiếng là gì, từ đơn và từ phức, từ ghép và từ láy khác nhau ở đâu, cách nhận diện các trường hợp dễ nhầm, kèm bảng và ví dụ.
Nội dung bài
- Tiếng: đơn vị nhỏ nhất để dựng từ
- Sơ đồ phân loại phổ biến trong sách giáo khoa
- Từ đơn: một tiếng không phải là toàn bộ câu chuyện
- Từ ghép: các tiếng nối với nhau bằng nghĩa
- Từ láy: các tiếng nối với nhau bằng âm
- Những trường hợp hay nhầm giữa từ ghép và từ láy
- Từ có yếu tố Hán Việt
- Cách tự phân loại một từ trong ba bước
- Hỏi đáp nhanh
Tiếng: đơn vị nhỏ nhất để dựng từ
Muốn hiểu từ tiếng Việt được cấu tạo ra sao, phải bắt đầu từ tiếng. Về mặt âm, mỗi tiếng là một âm tiết, khi viết thì là một chữ đứng giữa hai khoảng trắng: nhà, cửa, xinh, xắn. Về mặt nghĩa, phần lớn tiếng mang một nghĩa nhất định, nên giới ngôn ngữ học thường coi tiếng là đơn vị tương đương với hình vị (đơn vị nhỏ nhất có nghĩa) trong các ngôn ngữ khác. Bài Hình vị và từ bàn kỹ chuyện này.
Không phải tiếng nào cũng có nghĩa khi đứng riêng. So sánh:
- nhà, ăn, đỏ: tự thân có nghĩa, dùng một mình được.
- quốc, gia, thủy: có nghĩa (nước, nhà, nước) nhưng là yếu tố Hán Việt, thường không đứng một mình trong câu nói thường.
- lẽo trong lạnh lẽo, nhảu trong nhanh nhảu: không có nghĩa riêng, chỉ đi kèm tiếng gốc.
- bù và nhìn trong bù nhìn: tách ra thì không tiếng nào còn nghĩa gắn với "hình nộm".
Chính sự khác nhau này quyết định một từ là từ đơn, từ ghép hay từ láy.
Sơ đồ phân loại phổ biến trong sách giáo khoa
Cách chia mà sách giáo khoa phổ thông hay dùng dựa vào số tiếng trước, rồi đến quan hệ giữa các tiếng:
| Loại | Cấu tạo | Ví dụ |
|---|---|---|
| Từ đơn | Một tiếng | nhà, cây, đi, đẹp, và |
| Từ đơn nhiều tiếng | Nhiều tiếng nhưng từng tiếng không có nghĩa riêng | bù nhìn, bồ hóng, mồ hôi, cà phê, ra-đi-ô |
| Từ ghép | Hai tiếng trở lên, ghép theo quan hệ nghĩa | quần áo, xe đạp, hoa hồng, nhà cửa |
| Từ láy | Hai tiếng trở lên, liên hệ với nhau bằng âm | xinh xắn, lom khom, ầm ầm, lạnh lẽo |
Từ ghép và từ láy gộp lại gọi là từ phức. Một ví dụ kinh điển trong sách Ngữ văn lớp 6 cho thấy cả ba loại cùng nằm trong một câu: "Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở." Ở đây thần, dạy, dân, cách, và là từ đơn; chăn nuôi, ăn ở là từ ghép; trồng trọt là từ láy.
Cần biết thêm: một số giáo trình đại học không xếp "từ đơn nhiều tiếng" (kiểu bù nhìn, mặc cả) vào từ đơn mà gọi là "từ ngẫu hợp" hay "từ đơn đa tiết". Đây là khác biệt về tên gọi, bản chất thì thống nhất: các tiếng trong đó không có nghĩa riêng.
Từ đơn: một tiếng không phải là toàn bộ câu chuyện
Đại đa số từ đơn tiếng Việt chỉ có một tiếng, và đây là lớp từ cơ bản nhất: các từ chỉ bộ phận cơ thể (tay, chân, mắt), hoạt động (ăn, ngủ, đi, chạy), tính chất (to, nhỏ, nóng, lạnh), số đếm (một, hai, ba).
Từ đơn nhiều tiếng có ba nguồn chính:
- Từ thuần Việt mà các tiếng đã mờ nghĩa: bồ hóng, mồ hôi, bù nhìn, ễnh ương, chèo bẻo. Có thể xưa kia từng tiếng có nghĩa, nhưng người nói ngày nay không còn nhận ra.
- Từ mượn phiên âm: cà phê, xà phòng, ra-đi-ô, ki-lô-gam, a-xít. Trong cà phê, cả cà lẫn phê đều không mang nghĩa gì liên quan đến đồ uống; hai tiếng chỉ là cách ghi âm một từ nước ngoài. Xem Từ mượn tiếng Pháp.
- Từ phiên âm qua tiếng Hán: Bồ Tát, Niết Bàn, La Hán (gốc Phạn, qua chữ Hán).
Dấu hiệu nhận ra: thử bỏ một tiếng đi, nếu tiếng còn lại không gợi được nghĩa nào liên quan thì đó là một khối, không phải từ ghép.
Từ ghép: các tiếng nối với nhau bằng nghĩa
Từ ghép gồm những tiếng có nghĩa, kết hợp lại theo một quan hệ nghĩa. Có hai kiểu lớn, được trình bày kỹ ở bài Từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ:
- Ghép đẳng lập: các tiếng ngang hàng, nghĩa chung khái quát hơn từng tiếng. Quần áo không phải là quần cộng áo mà là đồ mặc nói chung; sông núi là đất nước, giang sơn.
- Ghép chính phụ: một tiếng chính, tiếng kia phụ nghĩa. Xe đạp, xe máy, xe buýt đều là "xe", tiếng sau thu hẹp nghĩa. Trong từ thuần Việt, tiếng chính thường đứng trước.
Mẹo kiểm tra từ ghép đẳng lập: thường đảo được trật tự mà nghĩa gần như không đổi (quần áo / áo quần, nhà cửa thì khó đảo hơn nhưng vẫn là đẳng lập). Ghép chính phụ thì không đảo được: xe đạp đảo thành đạp xe là thành cụm động từ khác hẳn.
Từ láy: các tiếng nối với nhau bằng âm
Ở từ láy, mối liên hệ giữa các tiếng nằm ở âm thanh: lặp lại toàn bộ hay một phần âm của tiếng gốc. Thường chỉ một tiếng có nghĩa rõ (tiếng gốc), tiếng kia là tiếng láy, hoặc cả hai đều không có nghĩa riêng.
- Láy toàn bộ: xanh xanh, ầm ầm, đo đỏ (biến thanh), thăm thẳm.
- Láy bộ phận, lặp phụ âm đầu: xinh xắn, nhỏ nhắn, long lanh.
- Láy bộ phận, lặp vần: lom khom, lác đác, liu điu.
Từ láy giàu sắc thái: đo đỏ nhạt hơn đỏ, đỏ đắn lại mang nghĩa khoẻ mạnh, hồng hào. Bài Từ láy phân tích các kiểu láy và sắc thái nghĩa chi tiết hơn.
Những trường hợp hay nhầm giữa từ ghép và từ láy
Ranh giới khó nhất là khi các tiếng vừa giống âm vừa có nghĩa. Nguyên tắc sách giáo khoa hay dạy: nếu cả hai tiếng đều có nghĩa và quan hệ với nhau về nghĩa thì xếp vào từ ghép, dù chúng trùng phụ âm đầu.
| Từ | Phân tích | Xếp loại thường gặp |
|---|---|---|
| mặt mũi | mặt và mũi đều có nghĩa, chỉ bộ phận khuôn mặt | Ghép đẳng lập |
| tươi tốt | tươi, tốt đều có nghĩa | Ghép đẳng lập |
| mệt mỏi | mệt, mỏi đều có nghĩa, gần nhau | Ghép đẳng lập |
| đi đứng | đi, đứng đều có nghĩa, nghĩa chung là cử chỉ, cách đi lại | Ghép đẳng lập |
| xinh xắn | xắn không có nghĩa riêng | Láy |
| chim chóc, máy móc, đất đai | Tiếng sau ngày nay mờ nghĩa, nhưng có thể là dấu vết từ cổ | Tài liệu xếp khác nhau |
Nhóm cuối là vùng tranh cãi thật sự. Có tài liệu dựa vào sự lặp âm để xếp chim chóc, máy móc vào láy; có tài liệu cho rằng tiếng sau vốn là một từ cổ đã mờ nghĩa nên vẫn là ghép. Khi làm bài kiểm tra, nên theo cách sách đang học quy định. Bài Từ thuần Việt và lớp từ cổ nói thêm về những tiếng "mất nghĩa" kiểu này.
Một cái bẫy khác: từ có hai tiếng giống âm nhưng là từ mượn hoặc từ đơn nhiều tiếng, ví dụ ba ba (con vật), cào cào, chuồn chuồn, châu chấu. Các từ gọi tên con vật kiểu này nhiều sách xếp vào từ đơn đa tiết hoặc láy "mô phỏng", vì tách ra từng tiếng không có nghĩa và cũng không có tiếng gốc nào để láy.
Từ có yếu tố Hán Việt
Một phần lớn từ phức tiếng Việt được dựng từ yếu tố Hán Việt: quốc gia, sơn hà, học sinh, thủy thủ, ái quốc. Chúng vẫn tuân theo phân loại ghép đẳng lập hay chính phụ, nhưng có một điểm khác: trong từ ghép chính phụ Hán Việt, tiếng chính thường đứng sau. So sánh:
- học sinh: người (sinh) học, chính sau phụ trước.
- thủy thủ: người (thủ) làm việc trên nước.
- ngựa trắng (thuần Việt) đối với bạch mã (Hán Việt): cùng nghĩa, trật tự ngược nhau.
Đọc thêm ở bài Từ Hán Việt.
Cách tự phân loại một từ trong ba bước
- Đếm tiếng. Một tiếng: từ đơn. Nhiều tiếng: sang bước 2.
- Tách từng tiếng, hỏi nghĩa. Không tiếng nào có nghĩa liên quan (như bù nhìn, cà phê): từ đơn nhiều tiếng. Có tiếng có nghĩa: sang bước 3.
- Xem quan hệ. Các tiếng đều có nghĩa và liên hệ về nghĩa: từ ghép. Chỉ một tiếng có nghĩa và tiếng kia giống âm với nó: từ láy.
Lưu ý cuối: chữ viết không phản ánh hết. Tiếng Việt viết rời từng tiếng, nên nhìn chữ không biết đâu là ranh giới từ. Học sinh giỏi có thể là học sinh + giỏi; xe đạp nhanh là xe đạp + nhanh, chứ không phải xe + đạp nhanh. Xác định từ luôn phải dựa vào nghĩa và khả năng chen từ khác vào giữa: ăn cơm chen thành ăn hết cơm mà nghĩa không đổi, nên đó là hai từ; hoa hồng (loài hoa) chen thành hoa rất hồng thì thành chuyện màu sắc, nên hoa hồng là một từ.
Hỏi đáp nhanh
Tiếng và từ khác nhau thế nào?
Tiếng là đơn vị âm thanh, mỗi tiếng là một âm tiết và khi viết là một chữ. Từ là đơn vị dùng để đặt câu, có thể gồm một tiếng như nhà, ăn hoặc nhiều tiếng như quần áo, xinh xắn.
Mặt mũi là từ láy hay từ ghép?
Theo cách sách giáo khoa hay dạy, mặt mũi là từ ghép đẳng lập vì cả mặt và mũi đều có nghĩa và cùng chỉ bộ phận khuôn mặt. Việc hai tiếng trùng phụ âm m chỉ là trùng hợp về âm.
Cà phê có phải từ ghép không?
Không. Cà phê là từ mượn được phiên âm thành hai tiếng, cà và phê đều không có nghĩa riêng liên quan đến đồ uống, nên được xếp vào từ đơn nhiều tiếng.
Từ phức gồm những loại nào?
Từ phức gồm từ ghép và từ láy. Từ ghép nối các tiếng bằng quan hệ nghĩa, còn từ láy nối các tiếng bằng quan hệ âm như lặp phụ âm đầu, lặp vần hoặc lặp toàn bộ.
Chim chóc, máy móc là từ láy hay từ ghép?
Đây là nhóm các tài liệu xếp không giống nhau. Có sách xếp vào từ láy vì lặp phụ âm đầu, có sách coi tiếng sau là từ cổ đã mờ nghĩa nên vẫn tính là từ ghép, khi đi thi nên theo sách đang học.