Từ láy tiếng Việt: láy âm, láy vần, láy toàn bộ và sắc thái nghĩa
Từ láy là gì, các kiểu láy toàn bộ, láy âm, láy vần, láy ba láy tư; quy luật thanh điệu bổng trầm và sắc thái nghĩa của từng kiểu, kèm bảng ví dụ.
Nội dung bài
Từ láy là gì
Từ láy là từ phức mà các tiếng liên hệ với nhau chủ yếu bằng âm thanh: lặp lại toàn bộ hoặc một phần âm của nhau. Phần lớn từ láy có một tiếng gốc mang nghĩa (đỏ trong đo đỏ, nhỏ trong nhỏ nhắn) và một tiếng láy không có nghĩa riêng (nhắn ở đây không liên quan gì đến nhắn tin). Cũng có từ láy mà cả hai tiếng đều không mang nghĩa riêng: bâng khuâng, lững thững, thình lình.
Điểm phân biệt với từ ghép đã nêu trong bài Cấu tạo từ tiếng Việt: từ ghép nối các tiếng bằng nghĩa (mặt mũi, tươi tốt), từ láy nối bằng âm. Trùng âm mà cả hai tiếng đều có nghĩa thì sách giáo khoa thường xếp vào từ ghép.
Các kiểu láy
Cách chia phổ biến trong nhà trường dựa vào phần âm được lặp lại:
| Kiểu láy | Phần lặp lại | Ví dụ |
|---|---|---|
| Láy toàn bộ, giữ nguyên | Cả tiếng | xanh xanh, ầm ầm, oa oa, ào ào |
| Láy toàn bộ, biến thanh | Cả tiếng, đổi thanh điệu ở tiếng đầu | đo đỏ, trăng trắng, tim tím, nhè nhẹ, nho nhỏ |
| Láy toàn bộ, biến âm cuối | Cả tiếng, âm cuối p/t/c đổi thành m/n/ng | đèm đẹp, san sát, khang khác, ăm ắp |
| Láy bộ phận: láy âm | Phụ âm đầu | xinh xắn, long lanh, mênh mông, nhỏ nhắn |
| Láy bộ phận: láy vần | Vần | lom khom, lác đác, liu điu, bồi hồi, lẩm bẩm |
Một số tài liệu không tách "láy toàn bộ biến thanh" và "biến âm cuối" thành nhóm riêng mà gộp vào láy toàn bộ, vì về bản chất tiếng đầu vẫn là bản sao tiếng gốc, chỉ đổi đi cho dễ đọc. Sự biến đổi này không tuỳ tiện: đẹp có âm cuối p thì tiếng láy đổi thành m (đèm), sát có t thì đổi thành n (san), khác có c thì đổi thành ng (khang). Đây là cặp âm cùng vị trí cấu âm: môi (p, m), đầu lưỡi (t, n), gốc lưỡi (c, ng).
Láy ba và láy tư
Ngoài láy đôi, tiếng Việt có những từ láy ba, láy tư, thường mang nghĩa nhấn mạnh hoặc gợi hình rất rõ:
- Láy ba: sạch sành sanh, sát sàn sạt, khít khìn khịt, tẻo tèo teo. Láy ba thường tăng mức độ: sạch sành sanh là sạch đến không còn gì, mạnh hơn hẳn sạch.
- Láy tư: lố nha lố nhố, bổi hổi bồi hồi, ríu ra ríu rít, hì hà hì hục, đủng đa đủng đỉnh. Phần lớn láy tư được tạo bằng cách mở rộng một từ láy đôi có sẵn (lố nhố, ríu rít, hì hục), thường gợi sự lặp đi lặp lại, kéo dài hoặc lộn xộn.
Láy ba, láy tư mang đậm màu khẩu ngữ, hợp với văn miêu tả, truyện, thơ; trong văn bản hành chính hay khoa học gần như không dùng.
Sắc thái nghĩa: cùng tiếng gốc, mỗi từ một vẻ
Giá trị lớn nhất của từ láy nằm ở sắc thái. Cùng một tiếng gốc, các từ láy khác nhau mang những đánh giá rất khác nhau. Bảng dưới đây cho thấy vì sao không thể thay từ láy này bằng từ láy kia một cách tuỳ tiện:
| Tiếng gốc | Từ láy | Sắc thái |
|---|---|---|
| nhỏ | nhỏ nhắn | nhỏ mà xinh, dễ thương (dáng người nhỏ nhắn) |
| nhỏ nhoi | nhỏ bé, yếu ớt, lẻ loi (ngọn đèn nhỏ nhoi) | |
| nhỏ nhặt | vụn vặt, không quan trọng (chuyện nhỏ nhặt) | |
| nhỏ nhen | hẹp hòi, hay chấp nhặt (tính nhỏ nhen) | |
| xanh | xanh xanh | hơi xanh, màu nhạt |
| xanh xao | nước da tái, thiếu sức sống | |
| lạnh | lành lạnh | hơi lạnh, dễ chịu |
| lạnh lẽo | lạnh và vắng vẻ, gợi buồn | |
| lạnh lùng | thờ ơ, không tình cảm (nói về thái độ) |
Từ bảng có thể rút ra mấy xu hướng (không tuyệt đối):
- Láy toàn bộ biến thanh với tính từ thường giảm nhẹ mức độ: đo đỏ nhạt hơn đỏ, nhè nhẹ nhẹ hơn nhẹ, khang khác là hơi khác.
- Láy toàn bộ giữ nguyên có khi giảm nhẹ (xanh xanh), có khi nhấn mạnh sự lặp lại hoặc liên tục, nhất là với từ tượng thanh (ầm ầm, ào ào).
- Láy vần rất hay dùng để tả dáng vẻ, động tác: lom khom, lênh khênh, lò dò, lững thững, lẩm bẩm.
- Láy ba gần như luôn tăng mức độ: sạch sành sanh, dửng dừng dưng.
Quy luật thanh điệu: bổng đi với bổng, trầm đi với trầm
Trong láy âm (lặp phụ âm đầu), hai tiếng thường mang thanh điệu cùng một nhóm:
- Nhóm bổng (cao): thanh ngang, hỏi, sắc. Ví dụ: nhỏ nhắn (hỏi + sắc), xinh xắn (ngang + sắc), vui vẻ (ngang + hỏi), trong trẻo (ngang + hỏi).
- Nhóm trầm (thấp): thanh huyền, ngã, nặng. Ví dụ: vững vàng (ngã + huyền), mạnh mẽ (nặng + ngã), lạnh lẽo (nặng + ngã), nhẹ nhàng (nặng + huyền), dễ dãi (ngã + ngã).
Quy luật này có ích thật sự khi viết chính tả: không chắc lẽo hay lẻo thì nhìn tiếng gốc lạnh mang thanh nặng (trầm), nên tiếng láy phải là ngã (trầm): lạnh lẽo. Tương tự mạnh mẽ, vội vã, sạch sẽ. Ngược lại tiếng gốc mang thanh ngang hoặc sắc thì tiếng láy là hỏi: vui vẻ, trong trẻo, hớn hở. Chi tiết xem bài Phân biệt dấu hỏi và dấu ngã.
Đây là xu hướng, có ngoại lệ thật: ngoan ngoãn (ngang + ngã), khe khẽ, se sẽ (ngang + ngã), bền bỉ, hồ hởi (huyền + hỏi). Những từ này nên học thuộc riêng.
Láy danh từ, động từ: khi lặp lại mang nghĩa "mọi"
Không chỉ tính từ mới láy được. Một số danh từ láy toàn bộ để chỉ tất cả, khắp lượt: nhà nhà (mọi nhà), người người (mọi người), ngày ngày (ngày nào cũng vậy), đời đời (mãi mãi). Câu "Nhà nhà vui đón Tết" nghĩa là nhà nào cũng vui. Kiểu láy này mang sắc thái trang trọng, hay gặp trong khẩu hiệu, thơ, văn chính luận.
Với động từ, láy toàn bộ thường diễn tả động tác lặp đi lặp lại nhẹ nhàng hoặc làm chưa dứt khoát: gật gật, cười cười, gõ gõ. "Anh ấy chỉ cười cười không nói" khác "anh ấy cười": người đọc hình dung một nụ cười nhẹ, có phần lấp lửng. Láy âm với động từ cũng phổ biến: nói năng, đi đứng thực ra là từ ghép, còn lẩm bẩm, thì thầm, loay hoay mới là láy.
Từ láy trong văn chương và đời sống
Từ láy giúp câu văn có nhạc tính và hình ảnh mà từ đơn khó đạt được. So sánh hai câu:
Bà cụ đi chậm ra ngõ.
Bà cụ lẩy bẩy, lò dò ra ngõ.
Câu thứ hai không chỉ nói tốc độ mà còn cho thấy dáng đi run, từng bước dò dẫm. Thơ ca tận dụng điều này rất nhiều: mênh mông, bát ngát, thăm thẳm gợi không gian; thấp thoáng, lấp ló, chập chờn gợi sự ẩn hiện.
Từ láy cũng là nguồn chính của từ tượng thanh và tượng hình: róc rách, lách tách, khúc khích (tượng thanh); lấp lánh, khấp khểnh, ngoằn ngoèo (tượng hình).
Những lỗi hay gặp khi dùng từ láy
- Dùng sai sắc thái: viết "một tâm hồn nhỏ nhen và trong sáng" là mâu thuẫn, vì nhỏ nhen mang nghĩa xấu. Người viết có lẽ muốn nói nhỏ bé (vốn là từ ghép) hoặc nhỏ nhắn.
- Viết sai dấu tiếng láy: "mạnh mẻ", "sạch sẻ", "vui vẽ". Áp dụng quy luật bổng trầm ở trên sẽ tránh được phần lớn lỗi này.
- Lạm dụng: một đoạn văn chồng ba bốn từ láy cùng nghĩa ("mênh mông, bát ngát, bao la, thênh thang") làm câu văn nặng nề. Một từ chọn đúng thường đủ.
- Tự tạo từ láy không có thật: người nói có thể láy ngẫu hứng cho vui ("học hiếc", "sách siếc"), đây là lối nói khẩu ngữ biểu thị thái độ coi nhẹ, không nên dùng trong văn viết trang trọng.
Hỏi đáp nhanh
Từ láy có mấy loại?
Cách chia phổ biến gồm láy toàn bộ như xanh xanh, đo đỏ và láy bộ phận, trong đó láy bộ phận lại chia thành láy âm như xinh xắn và láy vần như lom khom. Ngoài láy đôi còn có láy ba như sạch sành sanh và láy tư như lố nha lố nhố.
Vì sao viết lạnh lẽo mà không phải lạnh lẻo?
Trong từ láy âm, hai tiếng thường cùng nhóm thanh. Lạnh mang thanh nặng thuộc nhóm trầm nên tiếng láy đi theo thanh ngã cũng thuộc nhóm trầm.
Đèm đẹp có phải viết sai không?
Không sai. Đây là láy toàn bộ có biến âm cuối, âm p của đẹp chuyển thành m ở tiếng láy, giống san sát từ sát và khang khác từ khác.
Nhỏ nhắn, nhỏ nhoi, nhỏ nhặt khác nhau thế nào?
Nhỏ nhắn là nhỏ mà xinh, nhỏ nhoi là nhỏ bé và lẻ loi, nhỏ nhặt là vụn vặt không quan trọng. Cùng tiếng gốc nhỏ nhưng mỗi từ mang một sắc thái đánh giá riêng.
Học hiếc, sách siếc có phải từ láy không?
Đây là kiểu láy ngẫu hứng của khẩu ngữ, thường thể hiện thái độ coi nhẹ hoặc đùa. Từ điển không ghi nhận chúng như từ chính thức nên không dùng trong văn bản trang trọng.