Từ thuần Việt và lớp từ cổ còn sót trong thành ngữ, ca dao
Từ thuần Việt là gì, gồm những lớp từ nào, khác từ Hán Việt ra sao, và những từ cổ như tày, ác, trốc, đăm chiêu còn sống trong thành ngữ, văn chương.
Nội dung bài
Thuần Việt nghĩa là gì
Từ thuần Việt là cách gọi lớp từ vựng bản địa của tiếng Việt, phân biệt với từ mượn từ tiếng Hán (từ Hán Việt) và từ mượn các ngôn ngữ châu Âu như tiếng Pháp, tiếng Anh. Những từ gọi tên các thứ gần gũi nhất của đời sống phần lớn thuộc lớp này: trời, đất, nước, cây, cỏ, ăn, uống, ngủ, đi, mẹ, con, tay, chân, mắt.
Chữ "thuần" dễ gây hiểu lầm là những từ này "không có nguồn gốc từ đâu". Thực ra từ thuần Việt có lịch sử rất xa. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, tiếng Việt thuộc nhóm Việt – Mường trong ngữ hệ Nam Á, gần gũi nhất với tiếng Mường. Vì thế nhiều từ cơ bản của tiếng Việt có từ tương ứng trong tiếng Mường và trong các ngôn ngữ Môn – Khmer xa hơn. Trong lịch sử nghiên cứu từng có ý kiến xếp tiếng Việt vào nhóm khác, nhưng hướng Nam Á hiện được đa số nhà ngôn ngữ học chấp nhận. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn ghi nhận một số từ có thể liên quan với các ngôn ngữ Tai (Tày, Thái) do tiếp xúc lâu đời.
Nói cách khác, "thuần Việt" là khái niệm tương đối: nó chỉ những từ không nhận ra là vay mượn trong giai đoạn lịch sử có ghi chép, chứ không phải những từ "tự sinh ra".
Những lớp từ thuần Việt cơ bản
Từ thuần Việt tập trung dày đặc ở vốn từ cơ bản, những từ mà một đứa trẻ học nói trước tiên:
| Lĩnh vực | Ví dụ |
|---|---|
| Bộ phận cơ thể | tay, chân, mắt, mũi, miệng, răng, tóc, bụng |
| Số đếm | một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười |
| Thiên nhiên | trời, đất, nước, mưa, gió, sông, núi, rừng |
| Nông nghiệp lúa nước | lúa, gạo, cơm, cám, rơm, mạ, cày, bừa |
| Hoạt động cơ bản | ăn, uống, ngủ, đi, chạy, nói, cười, khóc |
| Tính chất | to, nhỏ, dài, ngắn, nóng, lạnh, đỏ, xanh |
Đáng chú ý là vốn từ về lúa nước rất phong phú và phân biệt tinh: mạ (cây lúa non để cấy), lúa (cây và hạt còn vỏ), thóc (hạt lúa đã tách khỏi bông, còn vỏ), gạo (hạt đã xay giã bỏ vỏ), cơm (gạo đã nấu chín), cám (lớp vỏ lụa xát ra). Nhiều ngôn ngữ chỉ dùng một hai từ cho tất cả những thứ này.
Một cái bẫy: có những từ nghe rất "thuần" nhưng thật ra gốc Hán đã Việt hoá từ sớm, như đầu (vốn là âm Hán Việt), buồng, chữ, mùi. Bài Từ Hán Việt nói rõ lớp từ gốc Hán đã Việt hoá này. Muốn khẳng định một từ là thuần Việt, các nhà nghiên cứu phải đối chiếu với nhiều ngôn ngữ cùng họ, không thể chỉ dựa vào cảm giác.
Thuần Việt và Hán Việt: một vật, hai tên
Rất nhiều khái niệm có cả tên thuần Việt lẫn yếu tố Hán Việt tương ứng. Hai lớp này phân công rõ: thuần Việt dùng độc lập trong lời nói thường, Hán Việt sống trong từ ghép và văn phong trang trọng.
| Thuần Việt | Yếu tố Hán Việt | Từ ghép Hán Việt |
|---|---|---|
| trời | thiên | thiên nhiên, thiên tai |
| đất | địa | địa lý, địa chất |
| sông | giang, hà | giang sơn, sơn hà |
| núi | sơn | sơn cước, giang sơn |
| nhà | gia | gia đình, quốc gia |
| nước | thủy (chất nước), quốc (đất nước) | thủy lợi; quốc ca |
Cặp cuối cho thấy một điểm thú vị: tiếng Việt dùng một từ nước cho cả "chất lỏng" lẫn "quốc gia", còn tiếng Hán dùng hai chữ khác nhau. Vì vậy dịch nước sang Hán Việt phải xét nghĩa: nước mắm không liên quan gì đến quốc, còn non nước (đất nước) không liên quan đến thủy.
Theo thời gian, một số từ Hán Việt dần nhường chỗ cho từ thuần Việt trong cách nói phổ biến: phi cơ và máy bay, hỏa xa và xe lửa, phi trường và sân bay. Ở từng vùng, từng thế hệ, mức độ dùng mỗi từ khác nhau; cả hai cách đều đúng tiếng Việt.
Lớp từ cổ: những từ chỉ còn sống trong thành ngữ
Từ cổ là những từ từng được dùng phổ biến nhưng nay không còn dùng độc lập, chỉ còn trong thành ngữ, ca dao, văn chương cũ hoặc trong một số phương ngữ. Gặp chúng là gặp dấu vết tiếng Việt xưa:
| Từ cổ | Nghĩa xưa | Còn gặp trong |
|---|---|---|
| tày | bằng, ngang với | tội tày trời, tày đình (to bằng cái đình) |
| ác | con quạ | gửi trứng cho ác (giao của cho kẻ sẽ ăn mất) |
| trốc | đầu | ăn trên ngồi trốc (ngồi trên đầu người khác) |
| đăm, chiêu | phải, trái | đăm chiêu (nay nghĩa là suy nghĩ, ưu tư) |
| khôn | không thể | khôn xiết, khôn nguôi, khôn lường |
| xiết | kể hết | vui mừng khôn xiết (không kể hết được) |
| sá | kể, quản | sá gì, sá chi (có đáng kể gì) |
Trường hợp đăm chiêu rất đáng nhớ: ghép hai từ "phải" và "trái" lại, nghĩa ban đầu có lẽ là băn khoăn bên này bên kia, rồi chuyển hẳn thành nét mặt suy tư. Từ chiêu (tay trái) vẫn còn trong lời nói một số vùng Bắc Trung Bộ. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng cho rằng một số tiếng mờ nghĩa trong từ ghép như búa trong chợ búa, cộ trong xe cộ, pheo trong tre pheo từng là từ có nghĩa.
Từ cổ còn hiện diện trong thơ văn trung đại. Câu thơ "Bui một tấc lòng ưu ái cũ" của Nguyễn Trãi dùng bui với nghĩa "chỉ có". Người đọc ngày nay cần chú giải mới hiểu, nhưng chính những từ này cho thấy tiếng Việt đã thay đổi thế nào qua nhiều thế kỷ.
Vì sao từ cổ biến mất
Từ cổ không biến mất ngẫu nhiên. Có mấy cơ chế thường gặp:
- Bị từ khác thay thế: ác nhường chỗ cho quạ; đăm, chiêu nhường chỗ cho phải, trái.
- Bị đồng âm lấn át: ác (quạ) trùng âm với ác (độc ác, gốc Hán), nghĩa sau mạnh hơn nên nghĩa "quạ" mờ dần. Đây là giả thuyết hợp lý được nhiều người nêu, chứ chưa phải kết luận chắc chắn cho từng trường hợp.
- Sự vật không còn: tên gọi các vật dụng, nghề, lễ nghi cũ mất đi cùng sự vật.
- Bị "đóng băng" trong thành ngữ: từ còn sống nhưng chỉ trong một khuôn cố định, như tày trong tày trời. Xem bài Thành ngữ và tục ngữ.
Nhận diện và dùng từ thuần Việt
Không có dấu hiệu hình thức nào chắc chắn tuyệt đối để nhận ra từ thuần Việt, nhưng có mấy gợi ý:
- Dùng độc lập được trong lời nói thường, kể cả trẻ nhỏ cũng dùng: ăn, ngủ, mưa.
- Có một từ Hán Việt tương đương mang sắc thái trang trọng hơn: chết và tử, sông và giang.
- Phần lớn từ láy và từ tượng thanh là thuần Việt: lom khom, róc rách.
Khi viết, từ thuần Việt thường làm câu văn gần gũi, cụ thể, dễ hiểu. Một văn bản phổ biến kiến thức cho người đọc rộng rãi nên ưu tiên máy bay hơn phi cơ, nhà máy hơn công xưởng, nếu không có lý do về sắc thái. Ngược lại, văn bản nghi lễ, pháp lý cần từ Hán Việt để chính xác và trang trọng. Biết cả hai lớp từ mới chọn đúng.
Hỏi đáp nhanh
Từ thuần Việt có phải là từ không có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác không?
Không hẳn. Thuần Việt chỉ những từ bản địa không nhận ra là vay mượn trong lịch sử có ghi chép. Nhiều từ trong số đó có quan hệ họ hàng với tiếng Mường và các ngôn ngữ Môn - Khmer trong ngữ hệ Nam Á.
Đăm chiêu nghĩa gốc là gì?
Đăm và chiêu là hai từ cổ nghĩa là phải và trái. Ghép lại, đăm chiêu dần chuyển sang nghĩa nét mặt suy nghĩ, ưu tư như ngày nay.
Ác trong gửi trứng cho ác là gì?
Ác ở đây là từ cổ chỉ con quạ. Gửi trứng cho ác nghĩa là giao tài sản cho kẻ sẽ chiếm đoạt hoặc phá hỏng nó.
Đầu là từ thuần Việt hay Hán Việt?
Đầu là âm Hán Việt của một chữ Hán nhưng đã được dùng độc lập như từ thuần Việt từ rất lâu. Đây là ví dụ cho thấy cảm giác thuần Việt chưa chắc phản ánh đúng nguồn gốc.
Tày đình là gì?
Tày là từ cổ nghĩa là bằng, ngang với. Tày đình nghĩa là to bằng cái đình, dùng để nói việc gì đó rất lớn, thường là lỗi lầm hay chuyện rắc rối.