Từ tượng thanh và từ tượng hình: phân biệt, ví dụ và cách dùng
Từ tượng thanh mô phỏng âm thanh, từ tượng hình gợi dáng vẻ: phân biệt hai loại, bảng các kiểu cười khóc, tiếng kêu con vật ở nhiều ngôn ngữ và mẹo chính tả.
Nội dung bài
Hai loại từ "vẽ" bằng âm thanh
Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, con vật, con người, đồ vật: ào ào, róc rách, gâu gâu, khúc khích, tích tắc. Nghe từ là như nghe thấy tiếng.
Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật: lom khom, lênh khênh, ngoằn ngoèo, lấp lánh, móm mém. Nghe từ là như thấy hình.
Câu hỏi phân biệt rất đơn giản: từ đó bắt chước tiếng hay gợi hình? Lộp độp là tiếng mưa rơi trên mái tôn, nên là tượng thanh; lấm tấm là hình ảnh những hạt mưa nhỏ, nên là tượng hình.
| Tượng thanh | Tượng hình | |
|---|---|---|
| Gợi giác quan | Thính giác (tai) | Thị giác chủ yếu, đôi khi cả cảm giác |
| Thiên nhiên | ào ào, rì rào, lộp độp, vi vu | lấm tấm, lăn tăn, chập chờn |
| Con người | khúc khích, thút thít, lẩm bẩm | lom khom, lò dò, móm mém, rũ rượi |
| Đồ vật | tích tắc, leng keng, cót két | xộc xệch, khấp khểnh, lỏng lẻo |
Phần lớn là từ láy, nhưng không phải tất cả
Đa số từ tượng thanh, tượng hình là từ láy, vì sự lặp âm rất hợp để mô phỏng tiếng động lặp lại hay dáng vẻ kéo dài: ầm ầm (láy toàn bộ), róc rách (láy âm đầu), lom khom (láy vần). Tuy vậy vẫn có:
- Từ tượng thanh một tiếng: bốp, đùng, rầm, uỵch, choang. Chúng mô phỏng một tiếng động đơn, đột ngột: "Cái bát rơi đánh choang."
- Từ ba, bốn tiếng: ò ó o (gà gáy), lách ca lách cách, lộp bà lộp bộp, thường diễn tả âm thanh liên tục, dồn dập.
Ngược lại, không phải từ láy nào cũng là tượng thanh hay tượng hình: xinh xắn, nhỏ nhắn miêu tả tính chất nhưng không mô phỏng âm thanh hay dáng điệu cụ thể. Có tài liệu xếp rộng các từ này vào nhóm "gợi hình", có tài liệu chỉ dành tên "tượng hình" cho từ gợi dáng vẻ, chuyển động cụ thể. Khi làm bài, nên theo định nghĩa của sách đang học.
Bảng các kiểu cười và khóc
Tiếng Việt có vốn từ tượng thanh, tượng hình rất tinh tế khi tả người. Chỉ riêng tiếng cười đã có hàng chục cách nói, mỗi cách gợi một tính cách, một tình huống:
| Từ | Gợi tả |
|---|---|
| khúc khích | cười nhỏ, cố nén, thường của trẻ con, thiếu nữ |
| khanh khách | cười to, giòn, liên tục |
| ha hả | cười to, sảng khoái, thoải mái |
| hô hố | cười to, thô, thiếu tế nhị |
| khà khà | cười trầm, khoái chí, hay dùng cho người già |
| sằng sặc | cười to, liên tục, không nhịn được |
| toe toét | (tượng hình) miệng mở rộng khi cười |
| mủm mỉm | (tượng hình) cười nhẹ, không thành tiếng |
Với tiếng khóc: oa oa (trẻ sơ sinh), hu hu (khóc to), thút thít (khóc nhỏ, nghẹn), sụt sùi (vừa khóc vừa sụt sịt mũi), nức nở (khóc nấc từng cơn), còn rưng rưng là tượng hình, gợi nước mắt ứa ra mà chưa chảy.
Chọn từ nào là chọn cả một cách nhìn nhân vật. "Cô bé cười khúc khích" gợi sự hồn nhiên, ngại ngùng; "Gã đàn ông cười hô hố" gợi sự thô lỗ.
Mưa, gió, nước: mỗi tiếng một từ
Thiên nhiên là mảng từ tượng thanh phong phú nhất. Cùng là mưa, nhưng tiếng Việt phân biệt rõ cường độ và chất liệu tiếng động:
- Mưa: lộp độp (hạt mưa to rơi trên mái, trên lá), tí tách (từng giọt nhỏ, thưa), rào rào (mưa to, đều, kéo đến nhanh), rả rích (mưa nhỏ, kéo dài, dai dẳng). Còn lâm thâm, lất phất nghiêng về gợi hình: mưa nhỏ, hạt mảnh bay nghiêng.
- Gió: vi vu (gió thổi qua khe, qua ngọn cây, nghe như sáo), ào ào (gió mạnh từng đợt), xào xạc (tiếng lá khô cọ vào nhau khi có gió). Gió hiu hiu thì gợi cảm giác gió nhẹ, mát hơn là tiếng động.
- Nước: róc rách (suối nhỏ chảy qua đá), ì oạp (sóng nhỏ vỗ vào bờ, mạn thuyền), ầm ầm (thác đổ, sóng lớn), tong tong (giọt nước nhỏ rơi đều).
Viết "Mưa rả rích suốt đêm" và "Mưa rào rào trút xuống" là tả hai cơn mưa khác hẳn nhau, dù không cần thêm tính từ nào. Đó là sức mạnh của từ tượng thanh: một từ thay được cả một câu miêu tả.
Tiếng kêu con vật: tượng thanh cũng là quy ước
Người ta hay nghĩ từ tượng thanh là "bắt chước y hệt" âm thanh thật, nên ngôn ngữ nào cũng phải giống nhau. Thực tế không phải vậy:
| Âm thanh | Tiếng Việt | Tiếng Anh | Tiếng Nhật |
|---|---|---|---|
| Gà trống gáy | ò ó o | cock-a-doodle-doo | kokekokkō |
| Chó sủa | gâu gâu | woof, bow-wow | wan wan |
| Mèo kêu | meo meo | meow | nyā |
Mỗi ngôn ngữ "nghe" tiếng con vật qua khuôn âm của chính mình. Tiếng Việt có thanh điệu nên ò ó o mang thanh huyền, sắc, ngang; tiếng Nhật có âm tiết kiểu ko-ke-kok-kō nên tiếng gà gáy được ghi theo kiểu đó. Đây là bằng chứng thú vị cho một nguyên lý của ngữ nghĩa học: quan hệ giữa âm và nghĩa của từ phần lớn mang tính quy ước. Từ tượng thanh là nơi âm và nghĩa gần nhau nhất, nhưng vẫn không hoàn toàn tự nhiên.
Tiếng Việt cũng dùng từ tượng thanh để đặt tên con vật: tắc kè, chèo bẻo, bìm bịp, cuốc, quạ được nhiều người cho là gọi theo tiếng kêu. Với từng tên cụ thể, đây là cách giải thích dân gian hợp lý, cần thận trọng khi khẳng định chắc chắn.
Từ tượng thanh, tượng hình làm gì trong câu
Hai loại từ này rất linh hoạt về chức năng:
- Bổ nghĩa cho động từ: "Mưa rơi lộp độp", "Bà cụ đi lom khom".
- Làm vị ngữ: "Con đường ngoằn ngoèo", "Hàm răng khấp khểnh".
- Làm động từ: "Con gà mái cục tác suốt buổi", "Mấy đứa trẻ khúc khích sau cánh cửa".
- Đứng đầu câu để gây ấn tượng: "Rầm! Cánh cửa đóng sập lại."
Trong văn miêu tả, truyện, thơ, từ tượng thanh và tượng hình giúp người đọc nghe được, thấy được cảnh. So sánh "Ông lão đi chậm chạp trên con đường quanh co" với "Ông lão lò dò trên con đường ngoằn ngoèo": câu sau ngắn hơn nhưng giàu hình ảnh hơn. Trong văn bản hành chính, khoa học, các từ này gần như không xuất hiện vì mang sắc thái biểu cảm.
Mẹo chính tả với từ tượng thanh
Có mấy xu hướng giúp viết đúng phụ âm đầu, không tuyệt đối nhưng dùng được trong nhiều trường hợp:
- X hay S: từ láy tượng thanh phần lớn viết với x: xì xào, xào xạc, xôn xao, xì xụp, xèo xèo. Ngoại lệ có thật: sột soạt (tiếng giấy, vải cọ vào nhau) viết với s. Xem Phân biệt s và x.
- R, D hay GI: nhiều từ tượng thanh mô phỏng tiếng động nhỏ, đều đặn viết với r: rì rào, róc rách, rả rích, rì rầm, rào rào. Đây là xu hướng, cần tra từ điển khi không chắc. Xem Phân biệt d, gi, r.
- Dấu hỏi, ngã: theo quy luật thanh điệu trong từ láy, tiếng có thanh ngang, sắc đi với hỏi; tiếng có thanh huyền, nặng đi với ngã: lẻ tẻ (hỏi + hỏi), rả rích (hỏi + sắc), lã chã (ngã + ngã, nước mắt rơi).
Hỏi đáp nhanh
Từ tượng thanh và từ tượng hình khác nhau thế nào?
Từ tượng thanh mô phỏng âm thanh như ào ào, khúc khích, tích tắc. Từ tượng hình gợi tả hình ảnh, dáng vẻ như lom khom, ngoằn ngoèo, lấp lánh.
Lấp lánh là từ tượng thanh hay tượng hình?
Lấp lánh là từ tượng hình, vì nó gợi hình ảnh ánh sáng phản chiếu lúc ẩn lúc hiện chứ không mô phỏng âm thanh nào.
Từ tượng thanh có phải lúc nào cũng là từ láy không?
Không. Phần lớn là từ láy, nhưng có nhiều từ tượng thanh một tiếng như bốp, đùng, rầm, choang dùng để mô phỏng tiếng động đơn và đột ngột.
Vì sao tiếng gà gáy trong tiếng Việt và tiếng Anh khác nhau?
Vì mỗi ngôn ngữ mô phỏng âm thanh theo khuôn âm của chính mình. Tiếng Việt ghi là ò ó o, tiếng Anh là cock-a-doodle-doo, cho thấy từ tượng thanh vẫn mang tính quy ước.
Từ tượng thanh viết x hay s?
Từ láy tượng thanh phần lớn viết với x như xì xào, xào xạc, xôn xao. Tuy vậy vẫn có ngoại lệ như sột soạt, nên khi không chắc hãy tra từ điển.