Từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa: phân loại, sắc thái và cách dùng
Từ đồng nghĩa hoàn toàn và không hoàn toàn, đồng nghĩa giữa các vùng miền, các kiểu từ trái nghĩa, một từ nhiều nghĩa có nhiều từ trái nghĩa, kèm bảng và ví dụ.
Nội dung bài
Từ đồng nghĩa: nghĩa giống, nhưng không giống hệt
Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau, cùng gọi tên một sự vật, hành động, tính chất. Ví dụ: quả và trái, chết và qua đời, nhìn và ngó. Các từ đồng nghĩa với nhau họp thành một nhóm đồng nghĩa, trong đó thường có một từ trung tính, dùng được rộng rãi nhất, gọi là từ trung tâm.
Sách giáo khoa chia từ đồng nghĩa làm hai loại:
- Đồng nghĩa hoàn toàn: thay thế cho nhau được trong hầu hết ngữ cảnh mà không đổi nghĩa và sắc thái, như quả / trái, lợn / heo, máy bay / tàu bay. Khác biệt thường chỉ ở vùng dùng.
- Đồng nghĩa không hoàn toàn: nghĩa cơ bản giống nhưng khác sắc thái biểu cảm, mức độ hoặc cách thức. Đây là loại chiếm đa số.
Nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng đồng nghĩa "hoàn toàn" tuyệt đối rất hiếm: ngay quả và trái cũng có chỗ không thay nhau được, ví dụ quả trong kết quả, hậu quả là yếu tố Hán Việt, không đổi thành "kết trái" được (mà kết trái lại là chuyện cây ra quả).
Sắc thái: chọn sai từ là sai cả câu
Từ đồng nghĩa không hoàn toàn khác nhau ở ba mặt chính.
Khác sắc thái biểu cảm
| Nhóm | Từ | Sắc thái |
|---|---|---|
| ăn | ăn | trung tính |
| xơi | lịch sự, dùng khi mời người trên: "Mời bác xơi cơm" | |
| chén | thân mật, suồng sã, giữa bạn bè | |
| hốc, đớp | thô, có ý chê bai | |
| chết | chết | trung tính |
| qua đời, mất | tế nhị, tôn trọng | |
| hy sinh | trân trọng, dùng cho người chết vì nghĩa lớn | |
| toi, ngoẻo | khinh, đùa cợt |
Viết "Kẻ địch đã hy sinh" là dùng sai sắc thái, vì hy sinh chỉ dành cho người được trân trọng. Ngược lại, viết "Ông ấy ngoẻo năm ngoái" về một người đáng kính là thiếu tôn trọng.
Khác cách thức hành động
Tiếng Việt phân biệt rất tinh các cách mang một vật. Các từ dưới đây đều có nghĩa chung "mang vật từ chỗ này sang chỗ khác", nhưng không từ nào thay được từ nào:
| Từ | Cách mang |
|---|---|
| xách | bằng một tay, vật thõng xuống: xách túi |
| vác | đặt lên vai: vác cuốc |
| gánh | dùng đòn gánh trên vai, hai đầu có vật: gánh nước |
| khiêng | hai người trở lên cùng mang: khiêng tủ |
| bê | bằng hai tay, đưa ra phía trước: bê mâm |
| đội | trên đầu: đội thúng |
| cõng | trên lưng: cõng em |
Khác mức độ
Nhìn, ngắm, liếc, nhìn chằm chằm khác nhau ở thời gian và chủ ý: liếc là nhìn nhanh, nghiêng mắt; ngắm là nhìn lâu để thưởng thức; nhìn chằm chằm là nhìn lâu, không rời mắt. Tương tự, buồn, sầu, đau khổ tăng dần về mức độ.
Đồng nghĩa giữa các vùng miền
Một nguồn đồng nghĩa rất lớn là từ của các phương ngữ: cùng một vật, mỗi vùng gọi một tên, và tất cả đều đúng tiếng Việt. Xem thêm bài Ba vùng phương ngữ tiếng Việt.
Cần cẩn thận với những từ giống âm mà khác nghĩa giữa hai miền. Ốm ở miền Bắc là bị bệnh, còn ở miền Nam thường là gầy. Câu "Dạo này nó ốm quá" vì thế có thể được hiểu theo hai cách tuỳ người nghe. Ở đây không còn là đồng nghĩa mà là cùng một từ mang nghĩa khác nhau theo vùng.
Từ trái nghĩa và các kiểu đối lập
Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa đối lập nhau xét trên một phương diện: nóng / lạnh, sống / chết, mua / bán. Đối lập không phải lúc nào cũng cùng một kiểu:
| Kiểu | Đặc điểm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thang độ | Có mức ở giữa; phủ định một từ không có nghĩa là khẳng định từ kia | nóng / lạnh (giữa có ấm, mát), to / nhỏ, giàu / nghèo |
| Loại trừ | Không có mức giữa; không cái này thì là cái kia | sống / chết, đúng / sai, có / không |
| Đối hướng | Cùng một sự việc nhìn từ hai phía | mua / bán, cho / nhận, trên / dưới, trước / sau |
Phân biệt này có ích khi suy luận: "nước không nóng" chưa chắc là "nước lạnh" (có thể chỉ ấm), nhưng "con cá không còn sống" thì chắc chắn là đã chết.
Một từ nhiều nghĩa, nhiều từ trái nghĩa
Khi một từ có nhiều nghĩa, mỗi nghĩa có thể có từ trái nghĩa riêng. Đây là bài tập rất hay gặp:
- già: người già / người trẻ; rau già / rau non; cau già / cau non.
- lành: áo lành / áo rách; bát lành / bát vỡ; tính lành / tính dữ; nấm lành / nấm độc.
- nhạt: canh nhạt / canh mặn; màu nhạt / màu đậm; tình cảm nhạt / tình cảm đằm thắm, mặn mà.
Muốn tìm đúng từ trái nghĩa, phải xác định từ đang được dùng theo nghĩa nào. Bài Nghĩa gốc, nghĩa chuyển giải thích vì sao một từ có nhiều nghĩa như vậy.
Trái nghĩa tạo bằng yếu tố Hán Việt
Một nguồn từ trái nghĩa khá đều đặn là các yếu tố Hán Việt mang nghĩa phủ định hoặc đối lập, ghép vào trước một yếu tố khác:
| Yếu tố | Nghĩa | Cặp trái nghĩa |
|---|---|---|
| hữu / vô | có / không | hữu ích / vô ích, hữu hình / vô hình, hữu hạn / vô hạn |
| bất | không | hợp pháp / bất hợp pháp, công bằng / bất công, lợi / bất lợi |
| phi | không, trái với | hợp lý / phi lý, chính thức / phi chính thức |
| thuận / nghịch | xuôi / ngược | thuận chiều / nghịch chiều |
Cần lưu ý: không phải yếu tố nào cũng ghép được tuỳ ý. Có vô lý và phi lý (gần nghĩa nhau), nhưng không có "bất lý". Có bất công nhưng trái nghĩa thông dụng của nó là công bằng chứ không phải "hữu công". Từ trái nghĩa phải là từ có thật, được dùng quen, không tự tạo theo công thức.
Đồng nghĩa giữa thuần Việt và Hán Việt
Rất nhiều nhóm đồng nghĩa gồm một từ thuần Việt và một từ Hán Việt: trẻ em / nhi đồng, đàn bà / phụ nữ, vợ / phu nhân, giúp / hỗ trợ, nhà máy / công xưởng. Thông thường từ Hán Việt trang trọng hơn, trừu tượng hơn, còn từ thuần Việt gần gũi, cụ thể hơn. Khi viết thư cho bạn, "Cảm ơn cậu đã giúp mình" tự nhiên hơn "Cảm ơn cậu đã hỗ trợ mình"; trong văn bản cơ quan thì ngược lại. Xem thêm bài Từ Hán Việt.
Đồng nghĩa và trái nghĩa trong thành ngữ, văn chương
Rất nhiều thành ngữ được dựng trên cặp trái nghĩa đặt đối nhau: lên thác xuống ghềnh, trước lạ sau quen, gần nhà xa ngõ, đầu xuôi đuôi lọt, mắt nhắm mắt mở. Sự đối lập làm câu dễ nhớ và tạo nhịp. Ngược lại, thành ngữ cũng hay ghép hai từ đồng nghĩa để nhấn mạnh: thay hình đổi dạng, ăn sung mặc sướng, chân yếu tay mềm. Xem bài Thành ngữ và tục ngữ.
Khi viết, từ đồng nghĩa giúp tránh lặp: thay vì nhắc đẹp năm lần trong một đoạn, có thể dùng xinh, duyên dáng, thanh tú, miễn đúng sắc thái với đối tượng. Từ trái nghĩa giúp làm nổi bật ý bằng tương phản: "Người ta đến vì tò mò, ở lại vì quý mến."
Những lỗi hay gặp
- Thay từ đồng nghĩa mà quên sắc thái: "Mời các bạn chén cơm" trong thư mời trang trọng. Nên dùng dùng bữa hoặc dự tiệc.
- Ghép hai từ đồng nghĩa thành thừa: "tuy nhiên nhưng", "nếu như mà giả sử". Chỉ cần một từ.
- Chọn sai từ trái nghĩa: viết "rau già" đối với "rau trẻ". Trái nghĩa của già theo nghĩa này là non.
- Nhầm đồng nghĩa với đồng âm: đồng nghĩa là khác âm, cùng nghĩa; đồng âm là cùng âm, khác nghĩa. Hai khái niệm ngược nhau hoàn toàn.
Hỏi đáp nhanh
Từ đồng nghĩa hoàn toàn là gì?
Là những từ thay thế được cho nhau trong hầu hết ngữ cảnh mà không đổi nghĩa và sắc thái, như quả và trái, lợn và heo. Loại này thường chỉ khác nhau ở vùng sử dụng.
Vì sao không được viết kẻ địch đã hy sinh?
Hy sinh là từ đồng nghĩa với chết nhưng mang sắc thái trân trọng, chỉ dùng cho người chết vì lý tưởng, vì nghĩa lớn. Nói về kẻ địch thì dùng chết hoặc bị tiêu diệt.
Từ trái nghĩa với già là gì?
Tuỳ nghĩa. Người già trái với người trẻ, còn rau già hay cau già thì trái với rau non, cau non.
Xách, vác, khiêng khác nhau thế nào?
Xách là mang bằng một tay để vật thõng xuống, vác là đặt vật lên vai, còn khiêng là hai người trở lên cùng mang một vật. Chúng cùng nghĩa chung là mang nhưng khác cách thức.
Ốm ở miền Nam có nghĩa là bệnh không?
Ở miền Nam, ốm thường được hiểu là gầy, còn bị bệnh thì nói bệnh hoặc bịnh. Ở miền Bắc, ốm nghĩa là bị bệnh.