Ngôn ngữ học là gì? Các phân ngành chính và ví dụ từ tiếng Việt
Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ: mô tả hay quy định, đồng đại và lịch đại, các phân ngành ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng và liên ngành.
Nội dung bài
Ngôn ngữ học nghiên cứu cái gì
Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ của con người: ngôn ngữ được cấu tạo thế nào, vận hành ra sao, thay đổi qua thời gian thế nào, được dùng trong xã hội ra sao và được bộ óc tiếp nhận, xử lý thế nào. Đối tượng của nó không phải một thứ tiếng cụ thể mà là ngôn ngữ nói chung, thông qua việc quan sát hàng nghìn ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.
Ngôn ngữ học khác với việc học một ngôn ngữ. Người học tiếng Nhật muốn nói được tiếng Nhật; nhà ngôn ngữ học nghiên cứu tiếng Nhật muốn hiểu vì sao tiếng Nhật có cấu trúc như vậy, nó giống và khác các ngôn ngữ khác ở đâu. Một nhà ngôn ngữ học không nhất thiết nói được nhiều thứ tiếng, cũng như một nhà sinh học không nhất thiết nuôi được nhiều loài vật.
Mô tả, không phán xét
Nguyên tắc nền của ngôn ngữ học hiện đại là mô tả (miêu tả ngôn ngữ như người ta thực sự dùng), chứ không quy định (bảo người ta phải nói thế nào). So sánh hai thái độ trước cách nói dzui thay cho vui ở nhiều vùng phía Nam:
- Thái độ quy định: "Phát âm như vậy là sai."
- Thái độ mô tả: "Ở vùng này, phụ âm đầu v thường được phát âm giống phụ âm đầu của d, gi trong cùng phương ngữ; đây là đặc điểm có hệ thống của phương ngữ, xuất hiện đều đặn trong mọi từ có v."
Điều đó không có nghĩa là ngôn ngữ học phủ nhận chuẩn mực. Chuẩn chính tả, chuẩn văn bản hành chính là những quy ước xã hội cần thiết, và ngôn ngữ học ứng dụng chính là ngành giúp xây dựng chúng một cách có cơ sở. Nhưng khi nghiên cứu, mọi phương ngữ, mọi ngôn ngữ đều là đối tượng ngang nhau. Không có ngôn ngữ nào "nguyên thủy" hay "kém phát triển": ngôn ngữ của một cộng đồng nhỏ ở vùng núi cũng có hệ thống ngữ âm, ngữ pháp đầy đủ và phức tạp không kém bất kỳ ngôn ngữ lớn nào.
Một số khái niệm nền tảng
Nhiều khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học hiện đại gắn với tên nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure, thường được xem là người đặt nền móng cho ngôn ngữ học hiện đại. Cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương nổi tiếng được các học trò biên soạn từ bài giảng của ông sau khi ông mất. Vài cặp khái niệm hay gặp:
| Khái niệm | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Ngôn ngữ và lời nói | Hệ thống chung của cộng đồng và việc sử dụng cụ thể của từng người | Quy tắc dùng đã, đang, sẽ là của ngôn ngữ; câu "Tôi đang ăn" bạn vừa nói là lời nói |
| Tính võ đoán | Giữa âm thanh và nghĩa của từ không có mối liên hệ tất yếu | Con vật ấy là chó trong tiếng Việt, dog trong tiếng Anh; không âm nào "đúng hơn" |
| Đồng đại và lịch đại | Nghiên cứu ngôn ngữ ở một thời điểm và nghiên cứu sự thay đổi qua thời gian | Mô tả tiếng Việt hiện nay (đồng đại); tìm hiểu tiếng Việt thời chữ Nôm khác bây giờ thế nào (lịch đại) |
Tính võ đoán có ngoại lệ một phần ở từ tượng thanh, nhưng ngay cả ở đó, mỗi ngôn ngữ vẫn mô phỏng âm thanh theo cách riêng.
Các phân ngành chính
Ngôn ngữ học chia thành nhiều phân ngành, mỗi ngành nghiên cứu một tầng hoặc một mặt của ngôn ngữ:
| Phân ngành | Nghiên cứu | Câu hỏi ví dụ về tiếng Việt |
|---|---|---|
| Ngữ âm học | Âm thanh lời nói: phát ra, truyền đi, nghe thấy | Thanh ngã được phát âm thế nào ở giọng Hà Nội? |
| Âm vị học | Hệ thống âm có chức năng phân biệt nghĩa | Tiếng Việt có bao nhiêu âm vị phụ âm đầu? |
| Hình thái học, từ pháp | Cấu tạo từ từ những đơn vị nhỏ hơn | Vì sao xinh xắn là từ láy, xe đạp là từ ghép? |
| Cú pháp học | Cách từ kết hợp thành cụm, câu | Vì sao nói áo đỏ mà không nói "đỏ áo"? |
| Ngữ nghĩa học | Nghĩa của từ, câu | chân bàn liên quan gì tới chân người? |
| Ngữ dụng học | Nghĩa trong ngữ cảnh sử dụng | Vì sao "Ăn cơm chưa?" thường là lời chào? |
Các tầng này có bài riêng trên trang: Âm vị và âm tố (ngữ âm, âm vị), Hình vị và từ (hình thái), Ngữ nghĩa học, Ngữ dụng học.
Các ngành liên ngành và ứng dụng
Ngoài các tầng cấu trúc, ngôn ngữ học còn nghiên cứu ngôn ngữ trong quan hệ với xã hội, lịch sử, con người và công nghệ:
- Ngôn ngữ học lịch sử – so sánh: tìm quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ, phục dựng ngôn ngữ tổ tiên. Xem Ngữ hệ.
- Ngôn ngữ học loại hình: so sánh cấu trúc các ngôn ngữ không cần quan hệ họ hàng, xếp chúng vào các loại. Xem Loại hình ngôn ngữ.
- Phương ngữ học: nghiên cứu các biến thể địa phương, ví dụ ba vùng phương ngữ tiếng Việt.
- Ngôn ngữ học xã hội: ngôn ngữ và giai tầng, giới tính, tuổi tác, tình trạng song ngữ, chính sách ngôn ngữ. Xem Tiếp xúc ngôn ngữ.
- Tâm lý ngôn ngữ học: trẻ em học nói thế nào, bộ óc hiểu câu ra sao.
- Ngôn ngữ học máy tính (gần với xử lý ngôn ngữ tự nhiên): dạy máy tính hiểu, dịch, tạo văn bản; ví dụ bài toán tách từ tiếng Việt, vì chữ viết cách theo âm tiết chứ không theo từ.
- Ngôn ngữ học ứng dụng: dạy và học ngôn ngữ, biên soạn từ điển, dịch thuật, xây dựng chữ viết cho ngôn ngữ chưa có chữ, chuẩn hoá chính tả.
Một câu, nhiều góc nhìn
Thử nhìn câu Cháu chào bà ạ! qua các phân ngành:
- Ngữ âm: bốn âm tiết, mang thanh sắc, huyền, huyền, nặng.
- Từ vựng, hình thái: bốn từ đơn một tiếng; ạ là tình thái từ.
- Cú pháp: chủ ngữ cháu, vị ngữ chào bà, tình thái từ ạ ở cuối.
- Ngữ nghĩa: cháu và bà vốn là từ chỉ quan hệ họ hàng.
- Ngữ dụng: đây là một hành động chào; ạ và cách xưng hô thể hiện lễ phép.
- Ngôn ngữ học xã hội: người nói có thể chẳng có họ hàng với người nghe, nhưng vẫn dùng cháu – bà theo tuổi tác, một đặc điểm của văn hoá xưng hô tiếng Việt.
Mỗi góc nhìn trả lời một câu hỏi khác nhau, và chỉ khi ghép lại mới có bức tranh đầy đủ về một câu nói tưởng như đơn giản.
Ngôn ngữ học gần đời sống hơn ta nghĩ
Nhiều thứ quen thuộc hằng ngày là sản phẩm trực tiếp của ngôn ngữ học. Cuốn từ điển trên bàn là thành quả của từ điển học: người biên soạn phải quyết định từ nào được thu thập, nghĩa nào chia thành mục riêng, ví dụ nào minh hoạ. Bộ gõ tiếng Việt trên điện thoại, chức năng sửa lỗi chính tả, phần mềm đọc văn bản thành tiếng đều cần hiểu biết về âm tiết, thanh điệu, chính tả tiếng Việt. Chương trình dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, sách học tiếng Việt cho người nước ngoài, việc ghi chép và bảo tồn những ngôn ngữ đang ít người nói dần đều cần đến người được đào tạo về ngôn ngữ học. Ngay câu hỏi tưởng như vụn vặt "viết hoà hay hòa" cũng là một vấn đề chuẩn hoá mà các nhà ngôn ngữ học từng bàn luận.
Hỏi đáp nhanh
Ngôn ngữ học là gì?
Ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ của con người: cấu tạo, cách vận hành, sự thay đổi qua thời gian và cách ngôn ngữ được dùng trong xã hội. Nó nghiên cứu ngôn ngữ nói chung chứ không chỉ một thứ tiếng.
Học ngôn ngữ học có phải là học nhiều thứ tiếng không?
Không. Học một ngôn ngữ là để sử dụng nó, còn ngôn ngữ học tìm hiểu vì sao ngôn ngữ có cấu trúc như vậy. Nhà ngôn ngữ học không nhất thiết nói được nhiều thứ tiếng.
Các phân ngành chính của ngôn ngữ học là gì?
Các phân ngành cấu trúc gồm ngữ âm học, âm vị học, hình thái học, cú pháp học, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học. Ngoài ra có các ngành liên ngành như ngôn ngữ học xã hội, tâm lý ngôn ngữ học, ngôn ngữ học lịch sử và ngôn ngữ học máy tính.
Saussure là ai?
Ferdinand de Saussure là nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, thường được xem là người đặt nền móng cho ngôn ngữ học hiện đại với các khái niệm như tính võ đoán của tín hiệu, ngôn ngữ và lời nói, đồng đại và lịch đại.
Ngôn ngữ học có coi phương ngữ là nói sai không?
Không. Ngôn ngữ học mô tả ngôn ngữ như người ta thực sự dùng, và coi mọi phương ngữ là hệ thống có quy luật riêng. Chuẩn chính tả hay chuẩn văn bản là quy ước xã hội, thuộc phạm vi ngôn ngữ học ứng dụng.