Thành phần câu tiếng Việt: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ và thành phần biệt lập
Thành phần câu tiếng Việt theo sách giáo khoa: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, khởi ngữ, thành phần biệt lập; câu hỏi để nhận diện, các ca khó và cách phân tích đề thuyết.
Nội dung bài
Tổng quan các thành phần câu
Sách giáo khoa phổ thông chia các thành phần của câu tiếng Việt thành ba nhóm:
| Nhóm | Thành phần | Vai trò |
|---|---|---|
| Thành phần chính | Chủ ngữ, vị ngữ | Bắt buộc để câu trọn ý (trừ câu đặc biệt, câu rút gọn) |
| Thành phần phụ | Trạng ngữ, khởi ngữ | Bổ sung hoàn cảnh hoặc nêu đề tài; bỏ đi câu vẫn đứng được |
| Thành phần biệt lập | Tình thái, cảm thán, gọi – đáp, phụ chú | Không tham gia diễn đạt sự việc, chỉ thể hiện thái độ hoặc thêm thông tin |
Các giáo trình ngữ pháp không hoàn toàn thống nhất. Có tài liệu coi bổ ngữ (bổ sung cho động từ) và định ngữ (bổ sung cho danh từ) là thành phần phụ của câu; sách Ngữ văn trung học cơ sở thì xếp chúng vào phần phụ của cụm từ. Một hướng khác, gắn với nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, phân tích câu tiếng Việt theo cấu trúc đề – thuyết thay vì chủ – vị. Bài này trình bày theo sách giáo khoa và có nhắc cách nhìn khác ở cuối.
Chủ ngữ và vị ngữ
Chủ ngữ
Chủ ngữ nêu người, vật, sự việc được nói tới. Câu hỏi để tìm chủ ngữ: Ai? Cái gì? Con gì? Việc gì?
- Thường là danh từ, cụm danh từ, đại từ: Mẹ đi chợ. Những cây bàng trước cổng đã rụng lá. Tôi học lớp 7.
- Cũng có thể là động từ, tính từ hoặc cụm của chúng: Đọc sách giúp ta hiểu biết. Khiêm tốn là một đức tính tốt.
Vị ngữ
Vị ngữ nói về hoạt động, trạng thái, đặc điểm của chủ ngữ. Câu hỏi để tìm vị ngữ: Làm gì? Thế nào? Là gì?
- Thường là động từ, tính từ hoặc cụm của chúng: Em bé đang ngủ. Bầu trời trong xanh.
- Danh từ làm vị ngữ thường cần là: Bố tôi là bác sĩ. Có trường hợp không cần: Hôm nay thứ Hai.
- Một câu có thể có nhiều vị ngữ chung một chủ ngữ: Lan vừa học giỏi, vừa hát hay.
Mẹo tìm ranh giới chủ – vị: chen thì, là hoặc từ chỉ thời gian đã, đang, sẽ vào. Những cây bàng trước cổng / đã rụng lá: đã đứng đầu vị ngữ, mọi thứ trước nó là chủ ngữ.
Trạng ngữ
Trạng ngữ bổ sung thông tin về hoàn cảnh của sự việc. Trạng ngữ thường đứng đầu câu và được ngăn với nòng cốt câu bằng dấu phẩy, nhưng cũng có thể đứng giữa hoặc cuối câu.
| Loại trạng ngữ | Câu hỏi | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thời gian | Khi nào? | Sáng nay, em dậy sớm. |
| Nơi chốn | Ở đâu? | Trong vườn, hoa đã nở. |
| Nguyên nhân | Vì sao? | Vì mưa to, trận đấu bị hoãn. |
| Mục đích | Để làm gì? | Để đạt điểm cao, bạn ấy ôn bài mỗi tối. |
| Phương tiện, cách thức | Bằng gì? Thế nào? | Bằng giọng nói nhẹ nhàng, cô khuyên em. |
Trạng ngữ không bắt buộc về ngữ pháp, nhưng nhiều khi bắt buộc về nghĩa: "Trận đấu bị hoãn" đúng ngữ pháp, nhưng không có vì mưa to thì người đọc thiếu thông tin quan trọng. Việc tách trạng ngữ thành câu riêng (Em dậy sớm. Vào lúc năm giờ.) là một biện pháp nhấn mạnh trong văn chương; trong văn bản thông thường dễ bị coi là câu què. Cách đặt dấu phẩy sau trạng ngữ xem bài Dấu câu.
Khởi ngữ
Khởi ngữ (còn gọi là đề ngữ) đứng trước chủ ngữ, nêu lên đề tài được nói đến trong câu. Trước khởi ngữ thường có hoặc có thể thêm các từ về, đối với, còn; sau khởi ngữ thường có thể thêm thì:
- Cuốn sách này, tôi đọc rồi. (cuốn sách là đề tài; chủ ngữ là tôi)
- Về môn Toán, em ấy học rất chắc.
- Còn tôi thì vẫn ở lại.
- Giàu, nhà ấy cũng giàu thật. (khởi ngữ lặp lại từ ở vị ngữ để nhấn mạnh)
Phân biệt khởi ngữ với chủ ngữ: trong Cuốn sách này, tôi đọc rồi, người làm hành động đọc là tôi, nên tôi mới là chủ ngữ; cuốn sách này là đối tượng được đưa lên đầu câu làm đề tài. Phân biệt với trạng ngữ: trạng ngữ nói hoàn cảnh (khi nào, ở đâu, vì sao), khởi ngữ nói đề tài (về cái gì).
Thành phần biệt lập
Thành phần biệt lập không tham gia vào việc diễn đạt sự việc của câu. Bỏ đi, nội dung sự việc không đổi.
- Tình thái: thể hiện cách nhìn của người nói với sự việc: chắc chắn, có lẽ, hình như, dường như, chắc là. Có lẽ ngày mai trời mưa.
- Cảm thán: bộc lộ cảm xúc: ôi, trời ơi, chao ôi. Trời ơi, sao lại thế này!
- Gọi – đáp: tạo lập hoặc duy trì giao tiếp: này, ơi, vâng, dạ. Này, cậu có rảnh không? Vâng, cháu hiểu rồi ạ.
- Phụ chú: bổ sung thông tin, thường đặt giữa hai dấu phẩy, hai dấu gạch ngang hoặc trong ngoặc đơn: Lan – bạn thân nhất của tôi – vừa đỗ đại học.
Cần phân biệt thành phần tình thái với tình thái từ: tình thái từ (à, nhé, nhỉ) gắn vào câu, tạo kiểu câu; thành phần tình thái (có lẽ, chắc chắn) là một bộ phận tách biệt, thường ngăn bằng dấu phẩy.
Lỗi thiếu thành phần chính
Lỗi câu hay gặp nhất trong bài viết của học sinh và cả trong văn bản công việc là thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ mà người viết không nhận ra:
- Thiếu chủ ngữ vì quan hệ từ đứng đầu: "Qua câu chuyện cho thấy lòng dũng cảm của cậu bé." Chữ qua biến câu chuyện thành trạng ngữ, câu không còn ai "cho thấy". Sửa: bỏ qua, hoặc thêm chủ ngữ: Qua câu chuyện, tác giả cho thấy…
- Thiếu vị ngữ vì cụm danh từ quá dài: "Ngôi trường mà chúng em đã gắn bó suốt bốn năm qua với biết bao kỷ niệm." Đây chỉ là một cụm danh từ, chưa có vị ngữ. Sửa: thêm vị ngữ: … đã được xây mới.
Cần phân biệt câu thiếu thành phần do lỗi với hai kiểu câu hợp lệ: câu rút gọn (lược thành phần mà ngữ cảnh tự bù lại: "Ăn cơm chưa?" – "Rồi.") và câu đặc biệt (không cấu tạo theo mô hình chủ – vị: "Mưa." "Ôi!" "Một đêm mùa xuân."). Hai kiểu câu này được bàn thêm ở bài Câu đơn, câu ghép.
Những ca khó và cách nhìn đề – thuyết
Có những câu mà phân tích chủ – vị gặp khó khăn, và đây là chỗ các trường phái khác nhau rõ nhất:
- Câu tồn tại: Trên tường treo một bức tranh. Theo cách phổ biến, trên tường là trạng ngữ, treo một bức tranh là phần nòng cốt; có ý kiến lại coi trên tường là chủ ngữ chỉ nơi chốn, hoặc coi một bức tranh là chủ ngữ đứng sau vị ngữ.
- Câu có khởi ngữ không rõ ranh giới: Nhà này cửa sổ rộng. Nhà này là khởi ngữ và cửa sổ / rộng là chủ – vị? Hay nhà này là chủ ngữ, cửa sổ rộng là vị ngữ có cấu trúc chủ – vị bên trong?
Cách phân tích đề – thuyết giải quyết những câu này tự nhiên hơn: phần đề nêu cái được nói tới (nhà này), phần thuyết nói điều gì về nó (cửa sổ rộng); ranh giới đề – thuyết thường đánh dấu được bằng thì, là, mà. Theo hướng này, khởi ngữ của sách giáo khoa thực chất là một kiểu đề. Hai cách phân tích không loại trừ nhau; khi làm bài ở trường, nên theo cách sách giáo khoa đang dùng.
Hỏi đáp nhanh
Câu tiếng Việt có những thành phần nào?
Theo sách giáo khoa, câu gồm thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ, thành phần phụ là trạng ngữ và khởi ngữ, cùng các thành phần biệt lập như tình thái, cảm thán, gọi đáp, phụ chú.
Làm sao tìm chủ ngữ và vị ngữ?
Hỏi Ai, cái gì, con gì để tìm chủ ngữ, và hỏi làm gì, thế nào, là gì để tìm vị ngữ. Có thể chen đã, đang, sẽ hoặc thì, là vào để thấy ranh giới giữa hai phần.
Khởi ngữ khác chủ ngữ thế nào?
Khởi ngữ nêu đề tài của câu và đứng trước chủ ngữ, như cuốn sách này trong câu cuốn sách này, tôi đọc rồi. Người thực hiện hành động là tôi nên tôi mới là chủ ngữ.
Khởi ngữ khác trạng ngữ thế nào?
Trạng ngữ nói về hoàn cảnh của sự việc như thời gian, nơi chốn, nguyên nhân. Khởi ngữ nói về đề tài, tức câu đang bàn về cái gì, và thường thêm được về, đối với ở trước.
Phân tích đề thuyết là gì?
Là cách phân tích câu thành phần đề nêu cái được nói tới và phần thuyết nói điều gì về nó, thường ngăn bằng thì, là, mà. Đây là hướng do một số nhà ngôn ngữ học như Cao Xuân Hạo đề xuất, bên cạnh cách phân tích chủ vị trong sách giáo khoa.