Từ loại tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ và các loại từ khác
Từ loại tiếng Việt theo sách giáo khoa: thực từ và hư từ, nhận diện danh từ, động từ, tính từ qua khả năng kết hợp, hiện tượng chuyển loại và cách phân loại khác.
Nội dung bài
Từ loại là gì và dựa vào đâu để chia
Từ loại là những lớp từ có chung đặc điểm ngữ pháp. Với tiếng Việt, một ngôn ngữ không biến hình (xem Loại hình ngôn ngữ), không thể nhìn đuôi từ để biết từ loại như tiếng Anh (-tion, -ly). Các nhà ngữ pháp dựa vào ba tiêu chí:
- Ý nghĩa khái quát: chỉ sự vật, hành động, tính chất, số lượng…
- Khả năng kết hợp: từ đó đi được với những từ nào đứng trước, đứng sau.
- Chức vụ trong câu: thường làm chủ ngữ, vị ngữ hay bổ ngữ.
Trong ba tiêu chí, khả năng kết hợp là đáng tin nhất, vì ý nghĩa có thể mơ hồ và chức vụ có thể thay đổi.
Hệ thống từ loại trong sách giáo khoa
Sách giáo khoa phổ thông chia từ tiếng Việt thành hai nhóm lớn: thực từ (mang nghĩa từ vựng rõ, làm được thành phần chính của câu) và hư từ (nghĩa từ vựng mờ, chủ yếu làm công cụ ngữ pháp).
| Nhóm | Từ loại | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thực từ | Danh từ | nhà, sông, học sinh, Hà Nội, tình yêu |
| Động từ | ăn, đi, đọc, suy nghĩ, yêu | |
| Tính từ | đẹp, cao, xanh, chăm chỉ | |
| Số từ | một, hai, mười, thứ nhất | |
| Đại từ | tôi, nó, chúng ta, ai, gì, thế | |
| Chỉ từ | này, kia, ấy, đó, nọ | |
| Hư từ | Phó từ | đã, đang, sẽ, rất, không, cũng |
| Lượng từ | những, các, mỗi, mọi, từng | |
| Quan hệ từ | và, của, nhưng, vì, nếu | |
| Trợ từ | chính, đích, ngay, những (nhấn mạnh) | |
| Tình thái từ, thán từ | à, ư, nhé, nhỉ; ôi, chao, ơi |
Cách xếp lượng từ, chỉ từ, đại từ vào nhóm nào có khác nhau giữa các tài liệu. Có sách coi đại từ và số từ là thực từ, có sách đặt riêng; có sách gộp chỉ từ vào đại từ. Một số nhà nghiên cứu theo hướng ngữ pháp chức năng còn gộp động từ và tính từ thành một lớp chung gọi là vị từ, vì cả hai đều làm vị ngữ trực tiếp mà không cần từ nối (khác tiếng Anh phải có to be: She is beautiful so với Cô ấy đẹp). Không có hệ thống nào là duy nhất đúng; khi học, nên theo hệ thống của sách đang dùng.
Nhận diện ba từ loại chính qua phép thử kết hợp
Danh từ
Danh từ gọi tên người, vật, hiện tượng, khái niệm. Dấu hiệu: đi được với số từ, lượng từ phía trước và chỉ từ phía sau: ba con mèo này, những ngôi nhà ấy, mỗi học sinh. Danh từ chia thành danh từ riêng (Lan, Huế, sông Hồng) và danh từ chung; danh từ chung lại có danh từ chỉ đơn vị (con, cái, chiếc, mét, lít, bó, đàn) và danh từ chỉ sự vật (mèo, nhà, hoa). Nhóm từ chỉ đơn vị tự nhiên như con, cái, chiếc được phân tích ở bài Danh từ chỉ loại.
Động từ
Động từ chỉ hành động, trạng thái. Dấu hiệu: đi được với đã, đang, sẽ, vừa, mới và với hãy, đừng, chớ (mệnh lệnh): đã đọc, hãy đi, đừng nói. Nhiều động từ có bổ ngữ trực tiếp theo sau: đọc sách, ăn cơm, yêu mẹ.
Tính từ
Tính từ chỉ đặc điểm, tính chất. Dấu hiệu nổi bật: đi được với từ chỉ mức độ rất, hơi, khá, lắm, quá: rất đẹp, cao lắm, hơi xanh. Tính từ cũng đi được với đã, đang, sẽ (lá đã vàng) nhưng ít khi đi với hãy, đừng theo nghĩa ra lệnh làm một hành động.
Những chỗ phép thử không tuyệt đối
- Động từ chỉ tâm lý, tình cảm đi được với rất: rất yêu, rất thích, rất sợ. Chúng vẫn là động từ vì có bổ ngữ trực tiếp: rất thích âm nhạc.
- Một số tính từ đi được với đừng, hãy: đừng buồn, hãy bình tĩnh. Ở đây người nói khuyên giữ một trạng thái, không phải ra lệnh làm hành động.
- Danh từ trừu tượng (tình yêu, niềm vui, sự thật) ít khi đi với số từ trực tiếp, nhưng vẫn đi được với lượng từ và từ chỉ đơn vị: những niềm vui nhỏ, một sự thật.
Chuyển loại: một từ, hai vai
Vì không biến hình, một từ tiếng Việt có thể chuyển sang dùng như từ loại khác mà không đổi hình thức:
| Từ | Dùng như | Ví dụ |
|---|---|---|
| cưa | danh từ / động từ | cái cưa / cưa gỗ |
| kỷ niệm | danh từ / động từ | những kỷ niệm đẹp / kỷ niệm ngày thành lập |
| khó khăn | tính từ / danh từ | cuộc sống khó khăn / vượt qua những khó khăn |
| nghệ sĩ | danh từ / gần như tính từ | một nghệ sĩ / anh ấy rất nghệ sĩ |
Dòng cuối là lối nói mới khá phổ biến: dùng danh từ chỉ người với rất để nói về tính cách đặc trưng (rất nghệ sĩ, rất đàn ông, rất Hà Nội). Lối nói này hợp với văn phong thân mật, báo chí, ít dùng trong văn bản trang trọng.
Các yếu tố sự, cuộc, niềm, nỗi, cái đặt trước động từ, tính từ để tạo danh từ: sự cố gắng, cuộc đấu tranh, niềm vui, nỗi buồn, cái đẹp. Chú ý sắc thái: niềm đi với cảm xúc tích cực (niềm vui, niềm tin, niềm tự hào), nỗi đi với cảm xúc tiêu cực hoặc nặng nề (nỗi buồn, nỗi nhớ, nỗi đau). Nói "nỗi vui" hay "niềm đau" là trái với thói quen chung (dù "niềm đau" đôi khi xuất hiện trong lời ca).
Hư từ: nhỏ mà quyết định nghĩa
Hư từ ít nghĩa từ vựng nhưng gánh phần lớn việc thể hiện ngữ pháp trong tiếng Việt. Thiếu chúng, câu vẫn có thể hiểu được nhưng mất sắc thái thời gian, quan hệ, thái độ:
- Phó từ chỉ thời gian, phủ định, mức độ: Nó đã đi / Nó sẽ đi / Nó không đi. Xem Diễn đạt thời gian.
- Quan hệ từ nối các thành phần: sách của tôi, mưa nên nghỉ. Xem Quan hệ từ.
- Tình thái từ thể hiện thái độ người nói: Đi nhé, Đi à?, Đi đi. Xem Tình thái từ.
- Lượng từ chỉ số lượng khái quát: những ngày, mỗi người. Xem Số từ và lượng từ.
Từ loại không trùng khít với chức vụ trong câu
Một sai lầm thường gặp là đồng nhất "danh từ = chủ ngữ, động từ = vị ngữ". Thực tế, mỗi từ loại có chức vụ quen thuộc nhưng vẫn đảm nhận được chức vụ khác:
- Động từ, tính từ làm chủ ngữ: Đọc sách là thói quen tốt. Lười biếng làm hỏng mọi kế hoạch. Ở đây động từ, tính từ vẫn giữ từ loại, chỉ đổi chức vụ.
- Danh từ làm vị ngữ: thường cần là (Tôi là sinh viên), nhưng có những câu không cần: Hôm nay thứ Hai. Anh ấy người Huế. Cái áo này vải tốt.
- Danh từ làm định ngữ: bàn gỗ, áo len, nhà tôi (đại từ làm định ngữ).
Vì vậy, khi phân tích câu cần tách hai câu hỏi: từ này thuộc từ loại nào (đặc điểm cố hữu của từ) và đang giữ chức vụ gì (vai trò trong câu cụ thể). Bài Thành phần câu trình bày phần chức vụ.
Mẹo làm bài xác định từ loại
- Đặt từ vào câu cụ thể; không xác định từ loại khi tách khỏi ngữ cảnh (vì có chuyển loại).
- Thử ghép: thêm ba, những, này (danh từ?); thêm đã, hãy (động từ?); thêm rất, lắm (tính từ?).
- Nếu ghép được nhiều kiểu, xem từ đó đang làm gì trong câu: gọi tên vật (danh từ), chỉ hành động (động từ), chỉ đặc điểm (tính từ).
- Gặp từ ghép, từ láy, xét cả từ chứ không tách từng tiếng: xinh xắn là một tính từ, xe đạp là một danh từ.
Hỏi đáp nhanh
Tiếng Việt có bao nhiêu từ loại?
Con số tuỳ hệ thống phân loại. Sách giáo khoa phổ thông thường nêu danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, chỉ từ, lượng từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, tình thái từ và thán từ, nhưng các nhà nghiên cứu có cách gộp tách khác nhau.
Làm sao phân biệt động từ và tính từ?
Tính từ dễ đi với rất, hơi, lắm, quá, còn động từ đi với hãy, đừng và thường có bổ ngữ trực tiếp như đọc sách. Riêng động từ tâm lý như yêu, thích đi được với rất nhưng vẫn là động từ vì có bổ ngữ.
Khó khăn là danh từ hay tính từ?
Tuỳ câu. Trong cuộc sống khó khăn nó là tính từ, còn trong vượt qua những khó khăn nó được dùng như danh từ vì đi sau lượng từ những.
Thực từ và hư từ khác nhau thế nào?
Thực từ mang nghĩa từ vựng rõ và làm được thành phần chính của câu, như danh từ, động từ, tính từ. Hư từ có nghĩa từ vựng mờ, chủ yếu làm công cụ ngữ pháp, như đã, của, nhé.
Vì sao nói niềm vui mà không nói nỗi vui?
Niềm thường đi với cảm xúc tích cực như niềm vui, niềm tin, còn nỗi thường đi với cảm xúc tiêu cực hay nặng nề như nỗi buồn, nỗi đau. Đây là thói quen kết hợp cố định của tiếng Việt.