Câu hỏi và câu phủ định trong tiếng Việt: dấu hiệu, cách trả lời, cách dùng gián tiếp
Cách tạo câu hỏi bằng từ để hỏi, có không, đã chưa, tình thái từ; trả lời câu hỏi phủ định; câu hỏi dùng gián tiếp; phủ định miêu tả, bác bỏ và các từ không, chưa, chẳng.
Nội dung bài
Câu hỏi được tạo bằng những gì
Câu hỏi (sách giáo khoa gọi là câu nghi vấn) trong tiếng Việt chủ yếu được nhận ra nhờ từ ngữ, không phải nhờ đảo trật tự như tiếng Anh. Khi viết, câu hỏi kết thúc bằng dấu chấm hỏi. Có bốn nhóm dấu hiệu:
| Dấu hiệu | Từ ngữ | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đại từ để hỏi | ai, gì, nào, đâu, sao, bao giờ, bao nhiêu, mấy, thế nào | Ai gọi em? Anh đi đâu? |
| Cặp từ hỏi | có … không, đã … chưa, có phải … không | Em có đói không? Anh đã ăn chưa? |
| Tình thái từ nghi vấn | à, ư, hả, chứ, nhỉ, chăng | Mẹ về à? Đẹp nhỉ? |
| Quan hệ từ lựa chọn | hay, hay là | Anh uống trà hay cà phê? |
Từ để hỏi đứng ở đúng vị trí của thông tin cần hỏi: Anh đi đâu? → Anh đi chợ. Ai làm vỡ cốc? → Lan làm vỡ cốc. Riêng bao giờ, khi nào đứng đầu hay cuối câu cho nghĩa thời gian khác nhau; xem bài Trật tự từ. Sắc thái của từng tình thái từ nghi vấn được phân tích ở bài Tình thái từ.
Trong lời nói, ngữ điệu và ngữ cảnh đôi khi đủ để một câu không có từ hỏi vẫn được hiểu là câu hỏi (Anh đi bây giờ?), nhưng đây không phải cách chính, vì tiếng Việt đã dùng cao độ giọng nói cho thanh điệu.
Câu hỏi có – không và cách trả lời
Mỗi kiểu câu hỏi có cách trả lời tương ứng:
| Câu hỏi | Trả lời khẳng định | Trả lời phủ định |
|---|---|---|
| Em có thích không? | Có. / Có ạ. | Không. |
| Anh đã ăn cơm chưa? | Rồi. / Ăn rồi. | Chưa. |
| Có phải anh là Nam không? | Phải. / Vâng. / Đúng rồi. | Không phải. |
| Mai anh đến chứ? | Có chứ. / Đến chứ. | Chắc không đến được. |
Câu hỏi đã … chưa được trả lời bằng rồi hoặc chưa, không phải có hoặc không. Trả lời "Không" cho câu "Anh ăn cơm chưa?" nghe như từ chối ăn, khác hẳn "Chưa" (chưa ăn, có thể sẽ ăn). Với người trên, nên trả lời kèm từ lễ phép: Dạ, con ăn rồi ạ.
Trả lời câu hỏi phủ định: bẫy với người nói tiếng Anh
Khi câu hỏi chứa phủ định, tiếng Việt trả lời theo kiểu đồng ý hay không đồng ý với điều người hỏi nói, khác với tiếng Anh trả lời theo sự việc:
– Anh không đi à?
– Ừ, anh không đi. (Đúng như em nói: anh không đi.)
– Không, anh có đi chứ. (Em nói sai: anh có đi.)
Trong tiếng Anh, "Aren't you going?" – "No" lại có nghĩa là không đi. Người học hai ngôn ngữ hay nhầm ở chỗ này. Để tránh hiểu lầm, nên trả lời đầy đủ: Ừ, không đi hoặc Có, anh đi, thay vì chỉ một tiếng.
Câu hỏi không dùng để hỏi
Rất nhiều câu có hình thức câu hỏi nhưng mục đích chính là khác. Sách giáo khoa gọi là dùng câu nghi vấn với chức năng khác:
- Cầu khiến, nhờ vả lịch sự: Anh có thể đóng cửa giúp em được không? Người nói không hỏi khả năng mà nhờ đóng cửa.
- Khẳng định: Ai mà chẳng muốn được khen? = Ai cũng muốn được khen.
- Phủ định: Tôi biết đâu mà nói? = Tôi không biết.
- Bộc lộ cảm xúc: Sao mà đẹp thế!, Trời ơi, sao lại ra nông nỗi này?
- Đe doạ, cảnh cáo: Mày có im đi không?
- Mở đầu, chào hỏi: Đi đâu đấy?, Ăn cơm chưa? Nhiều khi người hỏi không cần câu trả lời chính xác; đây là lời chào.
Những câu này cho thấy hình thức câu và mục đích nói không phải lúc nào cũng trùng nhau, một đề tài trung tâm của ngữ dụng học. Khi dùng với chức năng cảm thán, câu có thể kết thúc bằng dấu chấm than thay cho dấu chấm hỏi.
Hỏi cho lịch sự và câu hỏi đuôi
Hỏi thẳng "Anh tên gì?", "Nhà ở đâu?" với người lạ, người lớn tuổi dễ bị coi là cộc. Tiếng Việt có nhiều cách làm mềm câu hỏi:
- Thêm lời rào đón ở đầu: Cho em hỏi…, Xin hỏi…, Phiền anh cho biết…: Cho cháu hỏi đường ra bến xe đi lối nào ạ?
- Thêm từ xưng hô và ạ: Bác tên là gì ạ? so với Tên gì?
- Chuyển thành câu hỏi về khả năng: Chị có thể gửi lại tài liệu được không ạ? thay cho mệnh lệnh Gửi lại tài liệu đi.
Câu hỏi đuôi là câu kể được gắn thêm một phần hỏi ở cuối để kiểm tra lại hoặc tìm sự đồng tình: Mai họp lúc tám giờ, phải không?, Cậu là người Huế, đúng không?, Hôm nay lạnh, nhỉ? Người hỏi đã gần như biết câu trả lời, chỉ muốn xác nhận. Câu trả lời tự nhiên là Phải, Đúng rồi, Ừ, hoặc đính chính nếu thông tin sai.
Trong văn chương và văn nghị luận còn có câu hỏi tu từ: đặt câu hỏi không để được trả lời mà để nhấn mạnh, gợi suy nghĩ: Quê hương mỗi người chỉ một, có ai lại quên được nơi mình sinh ra? Một hai câu hỏi tu từ làm bài viết sinh động; dùng dày đặc sẽ khiến văn bản kém thuyết phục.
Câu phủ định
Câu phủ định có các từ ngữ phủ định như không, chưa, chẳng, chả, đâu có, không phải (là), chẳng phải (là). Sách giáo khoa phân biệt hai loại:
- Phủ định miêu tả: thông báo rằng một sự việc không xảy ra, không có: Hôm nay tôi không đi học.
- Phủ định bác bỏ: phản bác một ý kiến, nhận định của người khác: – Cậu lấy bút của tớ à? – Đâu có!
Không, chưa, chẳng, chả
| Từ | Sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|
| không | Phủ định trung tính, dùng rộng rãi nhất | Tôi không biết. |
| chưa | Phủ định đến thời điểm nói; có thể xảy ra sau | Nó chưa về. |
| chẳng | Phủ định mạnh hơn, có màu cảm xúc, hay gặp trong văn chương | Chẳng ai hiểu nó cả. |
| chả | Như chẳng nhưng đậm màu khẩu ngữ | Chả biết làm sao. |
| đâu, có … đâu | Phủ định nhấn mạnh, thường để bác bỏ | Tôi có nói thế đâu. |
Không phải (là) dùng để phủ định một danh từ, một nhận định đồng nhất: Đây không phải là sách của tôi. Nói "Đây không sách của tôi" là thiếu từ.
Phủ định của phủ định
Hai lần phủ định trong tiếng Việt thường tạo nghĩa khẳng định, có khi còn mạnh hơn câu khẳng định thường:
- Không ai không biết chuyện đó. = Ai cũng biết.
- Nói thế chẳng phải là không có lý. = Nói thế cũng có lý (khẳng định nhẹ, dè dặt).
Kiểu nói thứ hai giúp đưa ra nhận xét một cách mềm mỏng. Tuy vậy, chồng quá nhiều phủ định ("Không phải là tôi không muốn không đi") làm người nghe rối; nên viết lại cho thẳng.
Vị trí từ phủ định quyết định phạm vi
Từ phủ định tác động lên phần đứng sau nó:
- Tôi không thích tất cả các món này. (Không thích món nào? Hay không thích hết? Câu dễ mơ hồ.)
- Tôi không thích món nào trong số này. (Rõ: không thích món nào.)
- Không phải món nào tôi cũng thích. (Rõ: có món thích, có món không.)
Khi viết văn bản quan trọng, hãy kiểm tra câu phủ định có thể hiểu theo hai cách không, và chọn cách diễn đạt chỉ có một nghĩa.
Hỏi đáp nhanh
Câu hỏi trong tiếng Việt có những dấu hiệu nào?
Câu hỏi thường có đại từ để hỏi như ai, gì, đâu, cặp từ như có không, đã chưa, tình thái từ như à, ư, nhỉ, hoặc quan hệ từ lựa chọn hay, và kết thúc bằng dấu chấm hỏi khi viết.
Anh ăn cơm chưa nên trả lời thế nào?
Trả lời bằng rồi hoặc chưa, như ăn rồi hay chưa ăn. Trả lời không nghe như từ chối ăn, và với người trên nên thêm dạ, ạ.
Trả lời câu hỏi anh không đi à thế nào cho đúng?
Nếu không đi thì trả lời ừ, không đi, vì tiếng Việt xác nhận điều người hỏi nói. Nếu có đi thì trả lời không, anh có đi chứ.
Phủ định miêu tả và phủ định bác bỏ khác nhau thế nào?
Phủ định miêu tả thông báo sự việc không xảy ra như hôm nay tôi không đi học. Phủ định bác bỏ phản bác ý kiến của người khác như đâu có, tôi có nói thế đâu.
Không ai không biết nghĩa là gì?
Hai lần phủ định tạo nghĩa khẳng định, nên không ai không biết nghĩa là ai cũng biết, với sắc thái nhấn mạnh.