Danh từ chỉ loại trong tiếng Việt: con, cái, chiếc, quả, tấm, tờ…
Danh từ chỉ loại là gì, khi nào dùng con, cái, chiếc, quả, tấm, tờ, bức, ngôi, khi nào không cần; sắc thái của người, vị, đứa, thằng và lỗi hay gặp khi đếm.
Nội dung bài
Danh từ chỉ loại là gì
Muốn đếm mèo, tiếng Việt không nói "ba mèo" mà nói ba con mèo; không nói "hai sách" mà nói hai quyển sách. Những từ con, quyển, cái, chiếc, quả, tấm… đứng giữa số từ và danh từ như vậy gọi là danh từ chỉ loại (còn gọi là loại từ). Sách giáo khoa xếp chúng vào nhóm danh từ chỉ đơn vị tự nhiên, phân biệt với danh từ chỉ đơn vị quy ước như mét, cân, lít, bó, đàn.
Hiện tượng này không riêng tiếng Việt. Nhiều ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á cũng dùng loại từ khi đếm, như tiếng Quan thoại, tiếng Thái. Trong khi đó, tiếng Anh đếm thẳng danh từ đếm được (three cats), chỉ cần đơn vị cho danh từ không đếm được (a piece of paper).
Bảng các loại từ thông dụng
Mỗi loại từ thường đi với một nhóm sự vật có chung đặc điểm hình dáng hoặc tính chất. Đây là xu hướng, không phải quy tắc tuyệt đối:
| Loại từ | Thường dùng cho | Ví dụ |
|---|---|---|
| con | động vật; một số vật gợi sự chuyển động, kéo dài | con mèo, con cá; con đường, con sông, con thuyền, con dao, con số |
| cái | đồ vật nói chung | cái bàn, cái ghế, cái cốc |
| chiếc | một vật lẻ (trong một đôi, một bộ); xe cộ, tàu thuyền | chiếc đũa, chiếc giày, chiếc xe, chiếc lá |
| quả / trái | vật tròn hoặc khối | quả cam, quả bóng, quả trứng, quả núi; trái tim |
| tấm | vật mỏng, phẳng, có diện tích | tấm ảnh, tấm vải, tấm bảng |
| tờ | giấy, vật bằng giấy mỏng | tờ báo, tờ giấy, tờ lịch |
| quyển / cuốn | sách vở | quyển vở, cuốn sách, cuốn tiểu thuyết |
| cây | vật dài, thẳng | cây bút, cây nến, cây cột |
| bức | vật phẳng, thường để treo, dựng, gửi | bức tranh, bức tường, bức thư |
| ngôi | công trình, vật có vị trí cao, trang trọng | ngôi nhà, ngôi chùa, ngôi sao, ngôi trường |
| sợi, hạt, giọt | vật nhỏ, mảnh | sợi chỉ, sợi tóc; hạt gạo; giọt nước |
| hòn, viên | vật nhỏ, cứng | hòn đá, hòn bi; viên thuốc, viên gạch |
Có những từ đi với hai loại từ, khác nhau chút ít về sắc thái hoặc vùng dùng: quả cam / trái cam (quả phổ biến ở miền Bắc, trái ở miền Nam), quyển sách / cuốn sách, con thuyền / chiếc thuyền. Con thuyền gợi con thuyền như đang chuyển động, có "sinh khí"; chiếc thuyền nhìn nó như một vật đơn lẻ.
Loại từ chỉ người: chọn từ là chọn thái độ
Với người, loại từ không chỉ để đếm mà còn bộc lộ thái độ của người nói:
| Loại từ | Sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|
| người | trung tính | ba người thợ, một người bạn |
| vị | kính trọng | vị khách, vị giáo sư, các vị đại biểu |
| em | trìu mến, thường cho trẻ em, học sinh | hai em học sinh, các em nhỏ |
| đứa | cho trẻ nhỏ; với người lớn thì thân mật hoặc coi thường | đứa bé, mấy đứa bạn |
| thằng, con | rất thân mật hoặc khinh miệt, tuỳ ngữ cảnh | thằng bé, thằng ăn trộm |
Cùng một người, gọi vị trộm nghe mỉa mai, gọi thằng giáo sư là xúc phạm. Bài Đại từ và cách xưng hô nói thêm về tầng nghĩa thái độ trong cách gọi người của tiếng Việt.
Loại từ làm được những gì
Biến cái chung thành cái cụ thể
So sánh: Tôi thích mèo (thích loài mèo nói chung) và Tôi thích con mèo này (một con cụ thể). Danh từ trần như mèo thường mang nghĩa khái quát; thêm loại từ, nó trở thành một cá thể đếm được, chỉ ra được.
Đánh dấu cái đã biết
Con mèo đâu rồi? Không cần này, ấy, người nghe vẫn hiểu đó là con mèo mà cả hai đều biết. Loại từ trong trường hợp này hoạt động gần giống mạo từ xác định the của tiếng Anh, dù không hoàn toàn trùng.
Đứng thay cho cả cụm
"Chị mua mấy quả cam? – Ba quả." "Anh lấy cái nào? – Cái màu xanh." Loại từ đứng một mình thay cho cả danh từ đã nhắc trước, giúp câu gọn.
Tạo sắc thái văn chương
Chiếc lá rơi gợi sự lẻ loi hơn cái lá; cánh trong cánh đồng, cánh rừng gợi sự trải rộng; ngôi trong ngôi sao, ngôi nhà gợi sự trang trọng, vững chãi. Người viết giỏi chọn loại từ có chủ ý.
Phân biệt với danh từ chỉ đơn vị quy ước
Danh từ chỉ loại (đơn vị tự nhiên) dễ bị lẫn với danh từ chỉ đơn vị quy ước, cũng đứng giữa số từ và danh từ. Khác biệt nằm ở chỗ: loại từ chỉ một cá thể tự nhiên của sự vật, còn đơn vị quy ước là cách đo, cách gom do con người đặt ra.
| Kiểu | Ví dụ | Ghi chú |
|---|---|---|
| Loại từ (đơn vị tự nhiên) | một con gà, một quả trứng | Chỉ một cá thể |
| Đơn vị đo chính xác | hai cân gạo, ba mét vải, một lít nước | Đơn vị đo lường |
| Đơn vị ước chừng | một bó rau, một nắm gạo, một đàn gà, một mớ cá | Gom nhiều cá thể, không định lượng chính xác |
| Đơn vị tập thể theo cặp, bộ | một đôi đũa, một bộ bàn ghế, một chục trứng | Số lượng cố định hoặc theo quy ước |
Đơn vị quy ước kết hợp trực tiếp với danh từ mà không cần thêm loại từ: một đàn gà, một đôi đũa, không nói "một đôi chiếc đũa". Cũng cần nhớ nghĩa khác nhau: một chiếc đũa là một que, còn một đôi đũa là hai que.
Khi nào không cần loại từ
- Danh từ tự nó đã là đơn vị: ba ngày, hai năm, năm xã, mười tỉnh. Không nói "ba cái ngày".
- Danh từ chỉ người theo nghề, vai trò: ba học sinh, hai bác sĩ đều tự nhiên; thêm loại từ (ba em học sinh, hai vị bác sĩ) là để thêm sắc thái.
- Danh từ chỉ chất, khối: nước, gạo, cát, đường không đếm bằng loại từ mà bằng đơn vị quy ước hay vật chứa: hai bát gạo, một cốc nước, ba cân đường.
- Từ ghép đẳng lập có nghĩa khái quát: quần áo, bàn ghế, sách vở không đi với cái, chiếc; muốn đếm phải dùng bộ: một bộ quần áo. Xem Từ ghép.
- Sau lượng từ khái quát mà ý chỉ chung: mọi người, các bạn, những ngày (danh từ chỉ thời gian, người tự là đơn vị).
Loại từ cho đồ vật mới
Khi một vật mới xuất hiện, người nói phải chọn loại từ cho nó, và sự lựa chọn đôi khi rất thú vị: chiếc điện thoại, cái máy tính, con chip, con robot. Từ con được dùng cho cả những thứ không phải sinh vật nhưng gợi sự hoạt động, như con chip, con tàu, hay trong cách nói thân mật của giới trẻ là con xe, con laptop. Lối dùng con cho đồ vật kiểu này mang sắc thái khẩu ngữ, không nên dùng trong văn bản trang trọng.
Lỗi hay gặp
- Bỏ loại từ khi đếm: "Tôi có hai mèo", "Mua ba sách" là lỗi điển hình của người học tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai. Đúng: hai con mèo, ba quyển sách.
- Dùng sai loại từ người: viết báo cáo "Đoàn có năm đứa sinh viên" mang sắc thái coi thường; nên dùng năm sinh viên hoặc năm bạn sinh viên.
- Chồng loại từ: "hai cái chiếc xe". Chỉ một loại từ là đủ.
- Thêm loại từ vào danh từ khái quát: "một cái quần áo". Đúng: một bộ quần áo, một cái áo.
Hỏi đáp nhanh
Danh từ chỉ loại là gì?
Đó là những từ như con, cái, chiếc, quả, tấm đứng giữa số từ và danh từ khi đếm, ví dụ ba con mèo, hai quyển sách. Sách giáo khoa xếp chúng vào danh từ chỉ đơn vị tự nhiên.
Khi nào dùng con, khi nào dùng cái?
Con thường dùng cho động vật và một số vật gợi chuyển động hay kéo dài như con đường, con sông, con thuyền. Cái dùng cho đồ vật nói chung như cái bàn, cái cốc.
Quả và trái khác nhau thế nào?
Quả và trái cùng làm loại từ cho vật tròn như quả cam, trái cam. Quả phổ biến ở miền Bắc, trái phổ biến ở miền Nam, và có những kết hợp quen dùng toàn quốc như trái tim.
Vì sao không nói ba cái ngày?
Vì ngày tự nó đã là đơn vị thời gian, đếm trực tiếp được bằng số từ. Tương tự với năm, tháng, tỉnh, xã.
Gọi vị, người, đứa khác nhau ra sao?
Người là trung tính, vị thể hiện kính trọng, còn đứa dùng cho trẻ nhỏ hoặc mang sắc thái thân mật hay coi thường khi nói về người lớn.