Quan hệ từ trong tiếng Việt: và, với, của, nhưng, vì, nên, nếu, để…
Quan hệ từ là gì, các nhóm quan hệ sở hữu, nhân quả, tương phản, điều kiện, mục đích; cặp quan hệ từ; phân biệt hay và hoặc, nhờ và tại; lỗi dùng hay gặp.
Nội dung bài
Quan hệ từ là gì
Quan hệ từ là hư từ dùng để nối các từ, cụm từ, vế câu hoặc câu với nhau, đồng thời cho biết quan hệ ý nghĩa giữa chúng: sở hữu, so sánh, nguyên nhân, kết quả, tương phản, điều kiện, mục đích… Vì tiếng Việt không biến hình, quan hệ từ cùng với trật tự từ là phương tiện chủ yếu để nói lên mối liên hệ giữa các ý.
So sánh: Trời mưa. Tôi ở nhà. và Vì trời mưa nên tôi ở nhà. Hai câu đầu chỉ đặt cạnh nhau; câu sau nói rõ mưa là nguyên nhân. Hoặc: Trời mưa nhưng tôi vẫn đi. Cùng hai sự việc, đổi quan hệ từ là đổi hẳn quan hệ.
Các nhóm quan hệ từ
| Quan hệ | Quan hệ từ | Ví dụ |
|---|---|---|
| Sở hữu | của | sách của tôi |
| So sánh | như, bằng, hơn, là | đẹp như tranh; cao bằng anh |
| Đẳng lập, liệt kê | và, với, cùng, cũng như | bố và mẹ; tôi với nó |
| Lựa chọn | hay, hoặc | trà hay cà phê |
| Nguyên nhân | vì, bởi, bởi vì, do, tại, nhờ | vì mưa; nhờ bạn giúp |
| Kết quả | nên, cho nên, vì thế, thành ra | … nên nghỉ học |
| Tương phản | nhưng, mà, song, tuy, mặc dù | nghèo nhưng tốt bụng |
| Điều kiện, giả thiết | nếu, hễ, giá, giả sử, thì | nếu rảnh thì đến |
| Mục đích | để, nhằm, cho | học để biết |
| Nơi chốn, hướng, đối tượng | ở, tại, từ, đến, cho, với, về | làm ở nhà; gửi cho mẹ |
Một số từ thuộc nhiều nhóm tuỳ câu. Cho trong gửi quà cho mẹ chỉ đối tượng nhận, còn trong nói to lên cho mọi người nghe chỉ mục đích. Với có thể chỉ sự đi kèm (đi với bạn), đối tượng (tốt với mọi người) hoặc phương tiện (ăn với nước mắm).
Cặp quan hệ từ
Quan hệ từ thường đi thành cặp, mỗi từ đứng đầu một vế, nối hai vế của câu ghép:
- Nguyên nhân – kết quả: vì … nên, bởi … nên, do … nên, nhờ … mà, tại … mà: Vì đường trơn nên xe đi chậm.
- Điều kiện – kết quả: nếu … thì, hễ … thì, giá … thì: Hễ trời mưa thì đường ngập.
- Tương phản: tuy … nhưng, mặc dù … nhưng: Tuy nhà xa nhưng em không bao giờ đi muộn.
- Tăng tiến: không những … mà còn, không chỉ … mà còn, chẳng những … mà còn: Bạn ấy không những học giỏi mà còn hát hay.
Lưu ý sắc thái giữa nếu, hễ và giá: nếu là giả thiết trung tính; hễ là "cứ mỗi lần … là", nói về điều lặp lại; giá (giá mà, giá như) là giả thiết trái với thực tế, thường kèm tiếc nuối: Giá hôm ấy mình nghe lời mẹ thì đâu đến nỗi.
Những cặp hay bị dùng lẫn
Hay và hoặc
Cả hai chỉ sự lựa chọn, nhưng trong câu hỏi thì dùng hay: Anh uống trà hay cà phê? Dùng "hoặc" trong câu hỏi lựa chọn nghe không tự nhiên. Trong câu kể, cả hai đều được, nhưng hoặc trang trọng hơn và hay dùng trong văn bản: Hồ sơ nộp trực tiếp hoặc qua bưu điện.
Nhờ, tại, vì, do
| Từ | Kết quả thường đi kèm | Ví dụ |
|---|---|---|
| nhờ | Tốt, đáng mừng | Nhờ cô giúp đỡ, em đã tiến bộ. |
| tại | Xấu, không mong muốn, có ý trách | Tại anh mà cả nhóm bị muộn. |
| vì, do | Trung tính | Do mưa lớn, trận đấu bị hoãn. |
Viết "Nhờ anh mà tôi bị phạt" là dùng sai sắc thái, trừ khi cố ý mỉa mai.
Và, với, cùng
Tôi và Lan đi chợ: hai người ngang hàng, cùng là chủ thể. Tôi đi chợ với Lan: "tôi" là chủ thể chính, Lan đi kèm. Trong văn bản trang trọng, liệt kê nên dùng và; với mang màu khẩu ngữ hơn khi dùng để liệt kê (tôi với nó).
Như, bằng, hơn: quan hệ từ so sánh
Ba từ này dựng nên phần lớn câu so sánh trong tiếng Việt, mỗi từ một kiểu:
- như: so sánh giống nhau, thường mang tính hình ảnh, ước lệ: trắng như tuyết, nhanh như cắt. Đây cũng là từ nối trong nhiều thành ngữ so sánh.
- bằng: so sánh ngang nhau về mức độ đo được: Em cao bằng chị rồi. Câu phủ định là không bằng, chưa bằng.
- hơn: so sánh hơn kém: Hôm nay lạnh hơn hôm qua. Muốn nói mức cao nhất trong một nhóm thì dùng nhất: Cậu ấy cao nhất lớp.
Cần chú ý bằng còn có nghĩa khác hẳn: chỉ chất liệu (nhà bằng gỗ) và phương tiện, cách thức (đi bằng xe máy, viết bằng bút chì). Vì vậy bức tượng bằng đồng nói về chất liệu, còn bức tượng cao bằng người thật mới là so sánh; dấu hiệu nằm ở tính từ đứng trước bằng. Trong lời nói, như và bằng còn hay kết hợp: Không ở đâu vui bằng nhà mình, Giống như hồi xưa.
Mà: một từ, nhiều việc
Mà có thể là quan hệ từ tương phản (Nói mãi mà nó không nghe), quan hệ từ mục đích (Lấy áo mà mặc), từ nối mệnh đề phụ (Cuốn sách mà tôi mua hôm qua), và cả tình thái từ cuối câu (Em đã bảo mà!). Muốn biết mà đang làm gì, phải xem vị trí và ý của cả câu.
Khi nào bắt buộc, khi nào lược được
Không phải chỗ nào cũng cần quan hệ từ. Nhà tôi và nhà của tôi đều đúng; của chỉ thêm vào khi muốn nhấn mạnh quyền sở hữu hoặc đối chiếu (Đây là nhà của tôi, không phải của anh). Nhưng có những chỗ thiếu quan hệ từ thì đổi nghĩa hoặc mơ hồ:
- Làm việc ở nhà (làm công việc chuyên môn tại nhà) khác làm việc nhà (lau dọn, nấu nướng).
- Tôi mua quà cho mẹ rõ nghĩa; "Tôi mua quà mẹ" có thể hiểu là mua quà của mẹ.
- Anh ấy rất thân với bạn bè: bỏ với thì câu sai.
Lỗi dùng quan hệ từ hay gặp
Sách giáo khoa nêu bốn kiểu lỗi chính; các ví dụ dưới đây minh hoạ từng kiểu:
- Thiếu quan hệ từ: "Câu tục ngữ này chỉ đúng xã hội xưa." Thiếu từ chỉ đối tượng; sửa: chỉ đúng với xã hội xưa.
- Dùng quan hệ từ không hợp nghĩa: "Nhà em ở xa trường và em luôn đến lớp đúng giờ." Hai vế tương phản, phải dùng nhưng.
- Thừa quan hệ từ làm mất chủ ngữ: "Qua bài thơ đã cho chúng ta thấy tình yêu quê hương." Chữ qua biến "bài thơ" thành trạng ngữ, câu không còn chủ ngữ. Sửa: bỏ qua (Bài thơ đã cho chúng ta thấy…) hoặc thêm chủ ngữ (Qua bài thơ, tác giả cho chúng ta thấy…).
- Dùng quan hệ từ mà không có tác dụng liên kết: "Nó thích tâm sự với mẹ, không thích với chị." Vế sau thiếu động từ, với không nối được gì; sửa: không thích tâm sự với chị.
Thêm một lỗi hay gặp trong văn bản: chồng cặp quan hệ từ sai cặp, như "Tuy trời mưa nên tôi vẫn đi" (lẫn giữa tương phản và nhân quả). Đọc lại câu, xác định hai vế quan hệ với nhau thế nào rồi mới chọn cặp từ.
Hỏi đáp nhanh
Quan hệ từ là gì?
Quan hệ từ là hư từ dùng để nối các từ, cụm từ hoặc vế câu và cho biết quan hệ giữa chúng, như của chỉ sở hữu, vì chỉ nguyên nhân, nhưng chỉ tương phản, nếu chỉ điều kiện.
Hay và hoặc khác nhau thế nào?
Trong câu hỏi lựa chọn chỉ dùng hay, ví dụ anh uống trà hay cà phê. Trong câu kể cả hai đều dùng được, nhưng hoặc mang sắc thái trang trọng hơn.
Nhờ và tại khác nhau ra sao?
Nhờ chỉ nguyên nhân dẫn tới kết quả tốt, còn tại chỉ nguyên nhân dẫn tới kết quả xấu và thường có ý trách. Vì và do thì trung tính.
Qua bài thơ đã cho chúng ta thấy sai ở đâu?
Chữ qua biến bài thơ thành trạng ngữ nên câu mất chủ ngữ. Có thể bỏ qua để bài thơ làm chủ ngữ, hoặc giữ qua và thêm chủ ngữ như tác giả.
Có những cặp quan hệ từ nào thường gặp?
Hay gặp nhất là vì nên, nếu thì, tuy nhưng, không những mà còn, hễ thì, nhờ mà. Mỗi cặp nối hai vế của câu ghép theo một quan hệ nhất định.