Số từ và lượng từ: một hay mốt, năm hay lăm; những, các, mỗi, mọi, từng
Số từ chỉ lượng và chỉ thứ tự, cách đọc mốt, lăm, tư, linh, lẻ; lượng từ những, các, mỗi, mọi, từng, cả khác nhau thế nào, kèm bảng và các lỗi hay gặp.
Nội dung bài
Số từ và lượng từ: giống và khác
Cả hai đều liên quan đến số lượng và thường đứng trước danh từ, nhưng khác nhau ở độ chính xác:
- Số từ chỉ số lượng hoặc thứ tự cụ thể: một, hai, mười, một trăm; thứ nhất, thứ hai. Cũng có số từ chỉ số lượng ước chừng: vài, dăm, mươi, mấy.
- Lượng từ chỉ lượng khái quát, không nêu con số: những, các, mọi, mỗi, từng, cả, tất cả.
Trong cụm danh từ, chúng đứng ở phần trước danh từ, theo trật tự khá cố định: tất cả / những / ba + loại từ + danh từ: tất cả những con mèo ấy, cả ba quyển sách.
Số từ chỉ lượng và số từ chỉ thứ tự
Đây là điểm ngữ pháp quan trọng: cùng một số, đặt trước hay sau danh từ là hai nghĩa khác nhau.
| Số lượng (đứng trước) | Thứ tự (đứng sau) |
|---|---|
| ba tầng (toà nhà có 3 tầng) | tầng ba (tầng thứ ba) |
| hai chương | chương hai |
| năm phòng | phòng năm |
Số thứ tự đầy đủ dùng thứ: người thứ ba, lần thứ năm. Có hai trường hợp đặc biệt: số 1 dùng thứ nhất chứ không phải "thứ một"; số 4 dùng thứ tư chứ không phải "thứ bốn". Tên các ngày trong tuần cũng theo cách này: thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư…, ngày còn lại là Chủ nhật. Tháng dương lịch đọc tháng Một, tháng Tư… Trong âm lịch, tháng đầu năm gọi là tháng Giêng, tháng mười một gọi là tháng Một, tháng mười hai gọi là tháng Chạp.
Cách đọc số: một hay mốt, năm hay lăm
Tiếng Việt có những biến thể khi đọc số, theo quy luật khá chặt:
| Số | Đọc | Quy luật |
|---|---|---|
| 10, 20, 30 | mười, hai mươi, ba mươi | mười khi đứng một mình; mươi khi đứng sau hàng chục từ 2 trở lên |
| 11, 21, 31 | mười một, hai mươi mốt, ba mươi mốt | mốt sau mươi; sau mười vẫn là một |
| 15, 25 | mười lăm, hai mươi lăm | số 5 ở hàng đơn vị sau mười, mươi đọc là lăm (miền Bắc còn nói nhăm: hai mươi nhăm) |
| 14, 24 | mười bốn, hai mươi tư (hoặc hai mươi bốn) | tư chỉ dùng sau mươi, không nói "mười tư" |
| 105 | một trăm linh năm / một trăm lẻ năm | linh phổ biến ở miền Bắc, lẻ phổ biến ở miền Nam |
| 1.000 | một nghìn / một ngàn | nghìn phổ biến ở miền Bắc, ngàn ở miền Nam; cả hai đều chuẩn |
Một chi tiết hay bị bỏ qua: số 5 ở hàng đơn vị đứng sau trăm có linh/lẻ vẫn đọc là năm (một trăm linh năm), chỉ đổi thành lăm khi đứng ngay sau mười hoặc mươi. Trong lời nói nhanh còn có dạng rút gọn hăm (hai mươi): hăm lăm (25), hăm mốt (21). Cách viết số bằng chữ số, dấu chấm, dấu phẩy được trình bày ở bài Viết số, ngày tháng, đơn vị.
Số từ ước lượng: vài, dăm, mươi, mấy
- vài: khoảng hai, ba: vài người, dăm ba hôm.
- dăm: khoảng năm, hoặc một số nhỏ không xác định: dăm bữa nửa tháng.
- mươi: khoảng mười: mươi hôm nữa, mươi người.
- mấy: một số nhỏ không xác định (mấy hôm nay), hoặc dùng để hỏi số lượng ít (Cháu lên mấy?).
Các từ này kết hợp được với nhau hoặc với số từ chính xác để chỉ một khoảng: dăm ba, vài ba, ba bốn (khoảng ba hoặc bốn).
Lượng từ: những và các
Những và các đều chỉ số nhiều, nhưng khác nhau rõ khi đặt cạnh nhau:
| các | những | |
|---|---|---|
| Phạm vi | Toàn bộ trong một phạm vi đã xác định | Một số, một phần; hoặc nhóm chưa xác định rõ |
| Ví dụ | Các em học sinh lớp 6A (cả lớp) | Những em học sinh chăm chỉ được khen (chỉ những em chăm chỉ) |
| Trong lời gọi | Thưa các vị đại biểu | (không dùng để gọi) |
Vì các chỉ toàn bộ, nó rất hợp với lời gọi và liệt kê: các bạn, các anh chị, các tỉnh phía Bắc. Những hay đi với định ngữ thu hẹp phạm vi: những người đến muộn, những ngày mưa.
Những còn có một cách dùng khác: đứng trước số từ để nhấn mạnh là nhiều: Nó ăn những ba bát cơm (ý: nhiều đến ba bát). Ở đây những hoạt động như trợ từ nhấn mạnh, không còn là lượng từ số nhiều.
Mỗi, mọi, từng, cả
| Từ | Ý nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| mọi | Tất cả, không trừ ai/cái nào, nhìn như một khối | Mọi người đều đồng ý. |
| mỗi | Từng cá thể riêng, thường để phân phối | Mỗi người một vẻ. Mỗi em nhận một quyển vở. |
| từng | Lần lượt từng cá thể, cái này rồi cái khác | Cô giáo gọi từng em lên bảng. |
| cả, tất cả, hết thảy | Toàn thể | Cả lớp đứng dậy. Tất cả đều có mặt. |
So sánh: Mọi học sinh đều có sách (nhìn tổng thể), Mỗi học sinh có một quyển sách (phân phối một-một), Cô kiểm tra sách của từng học sinh (lần lượt từng em). Ba câu đều nói về "tất cả học sinh" nhưng nhìn từ ba góc khác nhau. Lưu ý từng còn là phó từ chỉ trải nghiệm (tôi từng sống ở Huế), xem bài Diễn đạt thời gian.
Số từ không để đếm: số ước lệ trong thành ngữ
Trong thành ngữ, tục ngữ, số từ thường không chỉ số lượng thật mà mang nghĩa ước lệ: "nhiều", "ít", "trọn vẹn", "lặp đi lặp lại". Đọc theo nghĩa đen sẽ hiểu sai:
- Ba chìm bảy nổi: long đong, vất vả, lên xuống nhiều lần; không phải đúng ba lần chìm, bảy lần nổi.
- Năm lần bảy lượt: nhiều lần, hết lần này đến lần khác.
- Chín người mười ý: mỗi người một ý kiến, khó thống nhất.
- Mười phân vẹn mười: hoàn hảo, trọn vẹn.
- Một nắng hai sương: làm lụng vất vả từ sáng sớm đến tối muộn.
- Trăm người như một: đồng lòng, thống nhất.
Các số hay gặp trong kiểu nói này là ba, bảy, chín, mười, trăm, nghìn, muôn, thường đi thành cặp để tạo nhịp và đối. Hiện tượng dùng số để chỉ "nhiều" có ở rất nhiều ngôn ngữ, nhưng con số cụ thể được chọn thì mỗi ngôn ngữ một khác. Xem thêm bài Thành ngữ và tục ngữ.
Lỗi hay gặp
- Dùng "các" khi chỉ một phần: "Các học sinh đi học muộn sẽ bị nhắc nhở" nghe như cả trường đi muộn. Đúng: Những học sinh đi học muộn…
- Chồng lượng từ: "Các những người", "mỗi các ngày". Chỉ chọn một.
- Chồng số nhiều: "Các bạn học sinh nhiều em đều…" hoặc "tất cả mọi người" (tất cả và mọi trùng ý). Cách nói "tất cả mọi người" rất phổ biến trong lời nói và được chấp nhận rộng rãi, nhưng trong văn viết gọn gàng hơn khi chỉ dùng một từ.
- Đọc sai số: "mười tư", "hai mươi một", "một trăm linh lăm". Dạng chuẩn: mười bốn, hai mươi mốt, một trăm linh năm.
- Nhầm số lượng và thứ tự: "Phòng họp ở ba tầng" thay vì Phòng họp ở tầng ba. Nhớ: số trước danh từ là đếm, số sau danh từ là thứ tự.
Hỏi đáp nhanh
Những và các khác nhau thế nào?
Các chỉ toàn bộ trong một phạm vi đã xác định, như các em học sinh lớp 6A là cả lớp. Những chỉ một phần hoặc nhóm chưa xác định rõ, như những em học sinh chăm chỉ.
Hai mươi mốt hay hai mươi một?
Đọc là hai mươi mốt. Một đổi thành mốt khi đứng sau mươi, còn sau mười thì vẫn là mười một.
Ba tầng và tầng ba khác nhau ra sao?
Ba tầng là số lượng, chỉ toà nhà có ba tầng. Tầng ba là số thứ tự, chỉ tầng thứ ba, vì số từ đứng sau danh từ mang nghĩa thứ tự.
Mỗi, mọi, từng khác nhau thế nào?
Mọi là tất cả nhìn như một khối, mỗi là từng cá thể riêng để phân phối, còn từng nhấn mạnh sự lần lượt cái này đến cái khác.
Một trăm linh năm hay một trăm lẻ năm?
Cả hai đều đúng. Linh phổ biến ở miền Bắc, lẻ phổ biến ở miền Nam.