Rễ củ hay rễ cũ?
Viết đúng là “rễ củ”.
“rễ củ” nghĩa là gì?
- Rễ phình to thành củ và chứa chất dự trữ.
Xem đủ nghĩa, ví dụ và cách dịch của “rễ củ” →
Vì sao viết “rễ cũ” là sai?
rễ cũ Tiếng “củ” thành “cũ”: dấu hỏi bị đổi thành dấu ngã.
“cũ” là một chữ khác, có thật — nên bộ gõ không báo lỗi: Được dùng đã lâu và không còn nguyên như trước nữa.
So sánh hai chữ: cũ hay củ?
dễ củ Tiếng “rễ” thành “dễ”: nhầm âm đầu “r” với “d”.
“dễ” là một chữ khác, có thật — nên bộ gõ không báo lỗi: Nhẹ nhàng, đơn giản, không phải vất vả, khó khăn khi làm, khi giải quyết.
So sánh hai chữ: dễ hay rễ?
Mẹo nhớ: dấu hỏi / dấu ngã
- Phần lớn người miền Trung và miền Nam đọc thanh hỏi và thanh ngã gần như nhau, nên khi viết rất dễ đặt nhầm dấu. Bộ gõ không báo lỗi vì cả hai chữ thường đều có thật.
- Luật bổng – trầm cho từ láy: tiếng đi cùng thanh ngang, sắc hoặc hỏi thì mang dấu hỏi (vui vẻ, nhỏ nhắn, lỏng lẻo); tiếng đi cùng thanh huyền, nặng hoặc ngã thì mang dấu ngã (lặng lẽ, vội vã, mạnh mẽ). Đúng với phần lớn từ láy, có ngoại lệ.
- Với từ Hán Việt: tiếng bắt đầu bằng m, n, nh, v, l, d, ng thường mang dấu ngã (mẫu, nữ, nhẫn, vĩ, lãnh, dũng, ngữ) — câu nhớ “Mình Nên Nhớ Viết Lại Dấu Ngã”; tiếng không có phụ âm đầu thường mang dấu hỏi (ảo, ẩn, uỷ). Xu hướng, có ngoại lệ.
Các từ khác hay sai kiểu này →
Mẹo nhớ: âm đầu d / gi / r
- Giọng Hà Nội đọc d, gi và r gần như giống nhau; giọng miền Nam đọc d và gi như nhau. Vì vậy ba chữ cái này hay bị viết lẫn.
- Từ Hán Việt không có tiếng nào bắt đầu bằng r. Gặp tiếng Hán Việt thì chỉ còn chọn giữa d và gi.
- Trong từ Hán Việt: tiếng mang thanh ngã hoặc nặng thường viết d (diễn, dĩ, dụ, dự); tiếng mang thanh hỏi hoặc sắc thường viết gi (giải, giản, giới, giám); thanh ngang và huyền thì có cả hai. Xu hướng mạnh, vẫn có ngoại lệ.
- Từ láy âm đầu giữ nguyên chữ cái: dai dẳng, dịu dàng; giòn giã; rì rào, rực rỡ.
Các từ khác hay sai kiểu này →