Vần tiếng Việt: cấu tạo, các loại vần và vai trò trong thơ, từ láy
Vần tiếng Việt gồm âm đệm, âm chính, âm cuối: bốn kiểu cấu tạo vần, cách phân loại theo âm cuối, các vần khó đọc khó viết, vần chính và vần thông trong thơ.
Nội dung bài
Vần là phần nào của âm tiết
Bỏ âm đầu và thanh điệu đi, phần còn lại của âm tiết là vần. Trong hoàng, bỏ h và thanh huyền còn oang; trong tiếng còn iêng; trong ba còn a. Vần gồm tối đa ba thành phần:
| Âm đệm | Âm chính | Âm cuối |
|---|---|---|
| không bắt buộc; âm lướt tròn môi viết o, u | bắt buộc; một nguyên âm đơn hoặc đôi | không bắt buộc; phụ âm hoặc bán nguyên âm |
Người Việt cảm nhận vần rất rõ, dù không học ngữ âm: trẻ học "bờ – an – ban", người làm thơ gieo vần, người chơi chữ nói lái tráo vần giữa các tiếng. Sự tách bạch giữa âm đầu và vần là một trong những đặc trưng nổi bật của âm tiết tiếng Việt (xem âm tiết tiếng Việt).
Bốn kiểu cấu tạo vần
Kết hợp sự có mặt hay vắng mặt của âm đệm và âm cuối, vần tiếng Việt có bốn kiểu cấu tạo:
| Kiểu | Cấu tạo | Ví dụ vần | Ví dụ tiếng |
|---|---|---|---|
| 1 | chỉ có âm chính | a, e, ơ, ia, ưa, ua | ba, mẹ, cờ, mía, mưa, của |
| 2 | âm đệm + âm chính | oa, oe, uê, uy, uơ, uya | hoa, khoe, thuê, tuy, thuở, khuya |
| 3 | âm chính + âm cuối | an, ai, ơi, iêng, ươt | bàn, tai, mới, tiếng, ướt |
| 4 | âm đệm + âm chính + âm cuối | oan, oai, uân, uyêt | toán, ngoài, xuân, tuyết |
Vần kiểu 4 dài nhất có thể chứa tới bốn chữ cái (uyên, uyêt, oanh), nhưng về âm vẫn chỉ ba thành phần: uyên = âm đệm u + nguyên âm đôi iê (viết yê) + âm cuối n.
Chữ viết có khoảng trên dưới một trăm rưỡi vần khác nhau, con số tuỳ việc có tính những vần rất hiếm (chỉ có trong một hai từ, như uyu trong khuỷu, oong trong xoong) hay không. Danh mục đầy đủ có thể xem ở trang tra vần.
Tách vần cho đúng: khi chữ viết đánh lừa
Tách vần phải dựa vào âm, không dựa vào chữ. Vài trường hợp dễ sai:
| Tiếng | Tách theo chữ (sai) | Tách theo âm (đúng) | Lý do |
|---|---|---|---|
| quanh | q + uanh | âm đầu "cờ" + vần oanh | chữ u sau q ghi âm đệm, cùng âm đệm với o trong hoanh |
| giữa | g + iữa | âm đầu gi + vần ươ (viết ưa) | gi là một chữ ghi âm đầu |
| gìn | g + ìn | âm đầu gi + vần in | chữ i vừa thuộc gi vừa ghi âm chính, chữ viết gộp lại |
| giếng | gi + ếng | âm đầu gi + vần iêng | sau gi, nguyên âm đôi iê chỉ viết một chữ i |
| khuya | kh + uya | âm đầu kh + âm đệm u + nguyên âm đôi iê | ya là cách viết iê sau âm đệm khi không có âm cuối |
| tay | t + ay (a dài + y) | âm đầu t + ă + i lướt | âm chính là a ngắn, chữ y ghi âm cuối |
Những trường hợp này cho thấy vì sao sách dạy đánh vần thường coi qu và gi là chữ ghi âm đầu, và dạy các vần như ay, uya, iêng thành từng khối nguyên vẹn.
Phân loại vần theo âm cuối
Âm cuối quyết định "dáng" kết thúc của vần, và giáo trình thường chia vần thành bốn nhóm tương ứng với bốn loại âm tiết:
| Nhóm vần | Kết thúc bằng | Ví dụ | Thanh có thể mang |
|---|---|---|---|
| Vần mở | âm chính | a, ơ, ia, oa, uy | cả sáu thanh |
| Vần nửa mở | bán nguyên âm i, u | ai, ay, ao, au, oi, iêu, ươu | cả sáu thanh |
| Vần nửa khép | phụ âm mũi m, n, ng, nh | am, an, ang, anh, uôn, oanh | cả sáu thanh |
| Vần khép | phụ âm tắc p, t, c, ch | ap, at, ac, ach, ươt, uyêt | chỉ sắc hoặc nặng |
Nhóm vần khép chỉ đi với thanh sắc và nặng: tuyết, tuyệt có, nhưng không có "tuyềt". Đây là lý do khi dạy đánh vần, các vần khép luôn được tập với hai thanh này. Chi tiết về các âm cuối xem âm cuối tiếng Việt.
Ngoài ra, có thể chia vần theo âm đệm: vần không tròn môi (an, iên) và vần tròn môi có âm đệm (oan, uyên). Hai nhóm này hay đi thành cặp: an – oan, ai – oai, ăn – oăn, ân – uân, iên – uyên, inh – uynh. Biết vần gốc là đọc được vần tròn môi tương ứng (xem âm đệm).
Những vần khó đọc, khó viết
Khi học đọc, trẻ thường vấp ở một nhóm vần mà chữ viết dài hoặc cách viết không khớp cách đọc:
- Vần có nguyên âm đôi và âm đệm: uyên, uyêt, uya (khuya) — vừa có âm đệm vừa có nguyên âm đôi, chữ y thay cho i.
- Vần hiếm: oăng (hoẵng), uyu (khuỷu), oong (xoong), uơ (thuở), ươu (hươu, rượu).
- Vần có a ngắn viết bằng chữ a: ay, au (tay, cau) — chữ a nhưng đọc ngắn, khác ai, ao.
- Vần có nh, ch cuối: anh, ach, inh, ich, ênh, êch — chữ viết hai chữ cái cho một âm cuối.
- Vần dễ lẫn theo vùng: an/ang, at/ac (miền Nam); ươu/iêu (một số giọng Bắc); iu/ưu.
Với người lớn, các vần này chủ yếu gây lỗi chính tả hơn là lỗi đọc. Cách học hiệu quả là học theo cặp đối lập (ai/ay, ao/au, an/ang) và nhóm vần ít từ (iêc, ươn, âng) như gợi ý trong bài phân biệt âm cuối.
Vần trong thơ: vần chính và vần thông
Gieo vần là cho hai tiếng có phần vần giống hoặc gần giống nhau xuất hiện ở những vị trí nhất định trong câu thơ. Lý luận thơ thường phân biệt:
- Vần chính (vần hoàn toàn): hai tiếng giống hệt nhau về vần, khác âm đầu, cùng nhóm thanh. Ví dụ hai câu đầu Truyện Kiều: "Trăm năm trong cõi người ta / Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau" — ta và là cùng vần a.
- Vần thông (vần gần): hai vần không giống hoàn toàn nhưng gần nhau về âm chính và có cùng kiểu âm cuối. Ngay câu tiếp theo: "ghét nhau / Trải qua một cuộc bể dâu" — nhau (ă + u) và dâu (â + u) là vần thông, vì hai nguyên âm ngắn ă, â gần nhau và cùng âm cuối u.
Vần chính tạo cảm giác chắc, vang; vần thông cho phép nhà thơ linh hoạt hơn khi chọn chữ. Luật gieo vần cụ thể của lục bát được trình bày ở bài thanh bằng, thanh trắc và luật thơ.
Vần trong từ láy và trong lời nói hằng ngày
Vần cũng là chất liệu của từ láy vần: hai tiếng giữ nguyên vần, đổi âm đầu, như lẩm bẩm, lác đác, bối rối, lúng túng, chênh vênh. Kiểu láy này thường gợi hình ảnh, âm thanh lặp đi lặp lại (xem bài từ láy).
Trong đời sống, vần có mặt ở ca dao, tục ngữ, câu khẩu hiệu, lời quảng cáo, vì câu có vần dễ nhớ: "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao" — non và hòn hiệp vần on. Câu tục ngữ, thành ngữ có vần lưng (vần ở giữa câu) như thế rất phổ biến: "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng" (đen – đèn).
Học vần là bước nền của việc học đọc ở lớp một; cách đánh vần và tên gọi vần trong nhà trường có ở bài đánh vần tiếng Việt.
Hỏi đáp nhanh
Vần gồm những thành phần nào?
Vần gồm âm đệm, âm chính và âm cuối, trong đó chỉ âm chính là bắt buộc. Ví dụ vần oan gồm âm đệm o, âm chính a và âm cuối n.
Có mấy kiểu cấu tạo vần?
Có bốn kiểu: chỉ có âm chính như a; âm đệm và âm chính như oa; âm chính và âm cuối như an; đủ cả ba như oan.
Vần chính và vần thông khác nhau thế nào?
Vần chính là hai tiếng có phần vần giống hệt nhau như ta và là. Vần thông là hai vần gần giống, như nhau và dâu trong Truyện Kiều: âm chính gần nhau và cùng âm cuối u.
Vì sao vần khép chỉ đi với thanh sắc và nặng?
Vần khép kết thúc bằng p, t, c, ch, những âm chặn hơi làm âm tiết ngắn lại. Trong tiếng Việt, những âm tiết này chỉ mang thanh sắc hoặc thanh nặng, như tuyết và tuyệt.
Tiếng Việt có bao nhiêu vần?
Chữ viết có khoảng trên dưới một trăm rưỡi vần; con số thay đổi tuỳ cách tính những vần rất hiếm chỉ xuất hiện trong một vài từ.