Chữ Nôm được tạo ra thế nào: mượn nguyên, mượn âm, mượn nghĩa và ghép chữ

Cách cấu tạo chữ Nôm: mượn nguyên chữ Hán lấy âm hoặc nghĩa, ghép thành phần gợi âm với gợi nghĩa, ghép hai nghĩa, thêm dấu báo đọc chệch. Có ví dụ cụ thể.

Chữ viết 6 phút đọc · cập nhật 30/10/2026

Nội dung bài
  1. Nhóm 1: Mượn nguyên chữ Hán
  2. Nhóm 2: Ghép một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa
  3. Nhóm 3: Ghép hai phần cùng gợi nghĩa
  4. Nhóm 4: Biến đổi chữ Hán, thêm dấu báo hiệu
  5. Bảng tổng hợp các phương thức
  6. Vì sao cùng một tiếng lại có nhiều chữ Nôm?
  7. Không chỉ người Việt làm thế
  8. Đọc chữ Nôm cần biết gì?
  9. Hỏi đáp nhanh

Mỗi chữ Nôm là lời giải cho một bài toán: dùng những ký tự vốn để ghi tiếng Hán, làm sao ghi được một tiếng Việt cụ thể? Người xưa không có một bộ quy tắc chung, nhưng khi xếp hàng nghìn chữ Nôm lại, các nhà nghiên cứu thấy chúng rơi vào vài nhóm phương thức khá rõ. Cách chia nhóm cụ thể khác nhau giữa các tác giả; dưới đây là cách chia phổ biến, đi từ đơn giản đến phức tạp.

Nhóm 1: Mượn nguyên chữ Hán

Đây là cách dễ nhất: lấy một chữ Hán có sẵn, viết nguyên hình, nhưng dùng nó theo một trong mấy kiểu sau.

Mượn cả âm lẫn nghĩa

Chữ Hán được dùng với đúng nghĩa và đọc theo âm Hán Việt, vì tiếng Việt đã vay luôn từ đó. Ví dụ chữ 學 đọc học, chữ 心 đọc tâm. Khi những chữ này xuất hiện trong văn bản Nôm, chúng là từ Hán Việt nằm trong câu tiếng Việt.

Mượn âm, bỏ nghĩa

Chữ Hán chỉ được dùng như một "ký hiệu ghi âm": âm Hán Việt của nó trùng hoặc gần với tiếng Việt cần ghi, còn nghĩa gốc bị bỏ qua. Đây là nhóm rất đông.

Chữ HánÂm Hán ViệtNghĩa gốcDùng để ghi
沒mộtchìm, mấtmột (số đếm)
埃aibụiai (người nào)
固cốbền, vữngcó
群quầnbầy, đàncòn

Lưu ý hai dòng cuối: âm Hán Việt không trùng hẳn tiếng Việt (cố – có, quần – còn). Người đọc phải tự biết "đọc trại" đi. Đây là nguồn gốc của rất nhiều chỗ khó và chỗ tranh cãi khi đọc văn bản Nôm.

Mượn nghĩa, đọc theo tiếng Việt

Ít gặp hơn: chữ Hán được dùng vì nghĩa, nhưng đọc bằng tiếng Việt tương đương. Kiểu này giống cách người Nhật đọc chữ Hán theo âm Nhật (kun-yomi). Trong chữ Nôm, phần lớn các trường hợp loại này liên quan đến lớp từ gốc Hán vào tiếng Việt từ rất sớm, nên ranh giới với nhóm "mượn cả âm lẫn nghĩa" không phải lúc nào cũng rạch ròi.

Nhóm 2: Ghép một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa

Đây là nhóm đặc trưng nhất của chữ Nôm, mô phỏng phương thức hình thanh của chữ Hán. Một thành phần (thường là một chữ Hán có âm gần) cho biết cách đọc; thành phần kia (thường là một bộ thủ hoặc chữ Hán có nghĩa liên quan) cho biết nghĩa, giúp phân biệt với các chữ đồng âm.

Chữ NômĐọcPhần gợi âmPhần gợi nghĩa
𠀧ba巴 (ba)三 (tam – số ba)
𢆥năm (năm tháng)南 (nam)年 (niên – năm)
𡨸chữ宁 (trữ)字 (tự – chữ)
𠊛người㝵 (ngại)人 (nhân – người)

Nhìn bảng sẽ thấy phần gợi âm cũng chỉ "gần đúng": nam để gợi năm, ngại để gợi người, trữ để gợi chữ. Phần gợi nghĩa giúp người đọc biết đây là chữ năm chỉ thời gian chứ không phải số năm; với số năm (5) người xưa dùng một chữ khác, có thành phần gợi nghĩa là số đếm.

Dấu vết phụ âm cổ

Một số chữ ghép hai thành phần đều gợi âm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là cách ghi những tổ hợp phụ âm đầu của tiếng Việt xưa, kiểu "bl", "tl", về sau mới biến thành tr, gi, l… Ví dụ hay được dẫn là chữ trăm, viết bằng 百 (bách) ghép với 林 (lâm): phần đầu gợi âm b-, phần sau gợi -lăm. Chữ Nôm vì vậy là chứng cứ quý cho lịch sử ngữ âm, đặt cạnh các cách ghi như "blời" (trời) trong từ điển năm 1651 (xem Từ điển Việt – Bồ – La).

Nhóm 3: Ghép hai phần cùng gợi nghĩa

Mô phỏng phương thức hội ý của chữ Hán: hai chữ có nghĩa ghép lại để gợi ra một nghĩa mới, không có phần nào ghi âm. Ví dụ quen thuộc nhất là chữ trời 𡗶, gồm 天 (thiên – trời) đặt trên 上 (thượng – trên): "cái ở trên cao là trời". Nhóm này ít hơn nhiều so với nhóm hình thanh, vì không cho biết cách đọc nên khó nhớ và dễ đọc nhầm.

Nhóm 4: Biến đổi chữ Hán, thêm dấu báo hiệu

Để cảnh báo người đọc rằng chữ này "không đọc như chữ Hán", người viết có thể thêm một ký hiệu nhỏ. Hay gặp nhất là bộ khẩu 口 thêm bên trái một chữ mượn âm, ngụ ý "đọc chệch đi, đây là lời nói". Có khi người ta thêm một dấu nháy nhỏ ở góc chữ với ý tương tự. Ngoài ra còn kiểu giản lược: bớt nét một chữ Hán phức tạp để viết nhanh, tạo ra dạng chữ chỉ dùng trong văn bản Nôm.

Bảng tổng hợp các phương thức

Phương thứcCách làmƯu điểmNhược điểm
Mượn cả âm, nghĩaDùng nguyên chữ Hán, đọc Hán ViệtDễ, không cần chữ mớiChỉ dùng cho từ gốc Hán
Mượn âmDùng chữ Hán có âm gầnNhanh, linh hoạtMột chữ ghi nhiều tiếng, dễ nhầm
Mượn nghĩaDùng chữ Hán, đọc tiếng ViệtGiữ được nghĩaKhông gợi cách đọc
Âm + nghĩa (hình thanh)Ghép phần gợi âm và phần gợi nghĩaPhân biệt rõ đồng âmNhiều nét, nhiều dị thể
Nghĩa + nghĩa (hội ý)Ghép hai chữ có nghĩaDễ hiểu ýKhông gợi âm, số lượng ít
Thêm dấu, bớt nétThêm 口 hoặc dấu nháy; giản lượcBáo hiệu đọc NômKhông thống nhất giữa các người viết

Vì sao cùng một tiếng lại có nhiều chữ Nôm?

Vì không có cơ quan nào ban hành chuẩn, mỗi người viết chọn phương thức và thành phần theo thói quen và vốn chữ Hán của mình. Một tiếng như năm có thể được ghi bằng chữ mượn âm 南, hoặc chữ ghép có thêm 年, hoặc một dạng giản lược. Ngược lại, chữ 南 trong văn bản Nôm có thể là nam (phương nam) hoặc năm, phải nhìn ngữ cảnh mới biết. Hiện tượng "một chữ nhiều cách viết, một mặt chữ nhiều cách đọc" là lý do chữ Nôm khó học và là đề tài của các bộ từ điển chữ Nôm hiện đại.

Không chỉ người Việt làm thế

Dùng chữ Hán để ghi ngôn ngữ của mình là lời giải mà nhiều dân tộc trong vùng cùng tìm tới. Người Triều Tiên xưa có những lối ghi tiếng Hàn bằng chữ Hán (mượn âm, mượn nghĩa) trước khi có chữ Hangul. Người Nhật đọc chữ Hán theo cả âm Hán lẫn âm Nhật, rồi giản lược chữ Hán thành hai bộ chữ kana. Người Choang ở miền nam Trung Quốc có "chữ vuông Choang", cấu tạo rất giống chữ Nôm: ghép phần gợi âm với phần gợi nghĩa. Điểm riêng của chữ Nôm là quy mô — một kho văn chương đồ sộ, đỉnh cao như Truyện Kiều, được viết hoàn toàn bằng hệ chữ này.

Đọc chữ Nôm cần biết gì?

  • Chữ Hán và âm Hán Việt: vì mọi thành phần chữ Nôm đều là chữ Hán. Xem Chữ Hán ở Việt Nam.
  • Bộ thủ: để đoán phần nào gợi nghĩa, phần nào gợi âm.
  • Quy luật biến âm giữa âm Hán Việt và tiếng Việt: cố – có, quần – còn, nam – năm. Hiểu cấu trúc âm tiết tiếng Việt giúp đoán nhanh hơn.
  • Ngữ cảnh và luật thơ: vần, nhịp giúp chọn cách đọc đúng trong số nhiều khả năng.

Hỏi đáp nhanh

Chữ Nôm có mấy cách cấu tạo?

Có nhiều cách chia, nhưng phổ biến là hai nhóm lớn: mượn nguyên chữ Hán (lấy cả âm nghĩa, chỉ lấy âm, hoặc chỉ lấy nghĩa) và tạo chữ mới bằng cách ghép (một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa, hoặc hai phần cùng gợi nghĩa). Ngoài ra còn kiểu thêm dấu báo hiệu và giản lược nét.

Chữ trời trong chữ Nôm viết thế nào?

Một cách viết quen thuộc là ghép chữ thiên (trời) đặt trên chữ thượng (trên), tức là ghép hai phần cùng gợi nghĩa. Đây là ví dụ hay được dẫn cho kiểu chữ Nôm hội ý.

Vì sao chữ Nôm thêm bộ khẩu?

Bộ khẩu thêm vào một chữ mượn âm thường để báo hiệu chữ đó phải đọc theo tiếng Việt, chệch khỏi âm Hán Việt gốc. Cách dùng này không thống nhất giữa mọi người viết.

Phần lớn chữ Nôm thuộc loại nào?

Hai loại đông nhất là chữ mượn âm của chữ Hán và chữ ghép một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa. Loại ghép hai phần cùng gợi nghĩa ít hơn nhiều.

Tra tiếp

Cùng nhóm chữ viết

Lịch sử chữ Quốc ngữ: từ ghi chép của giáo sĩ đến chữ viết của cả nướcLịch sử chữ Quốc ngữ qua các chặng: giáo sĩ thế kỷ 17, từ điển 1651, Gia Định báo 1865, Đông Kinh Nghĩa Thục, Bình dân học vụ — công trình của nhiều người.Chữ Hán ở Việt Nam: cách đọc Hán Việt, vai trò và dấu vết còn lạiChữ Hán ở Việt Nam: vào từ thời Bắc thuộc, đọc theo âm Hán Việt, là chữ của triều đình và khoa cử, phân biệt chữ Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt.Chữ Nôm: chữ viết của tiếng Việt thời trung đạiChữ Nôm là chữ dựa trên chữ Hán để ghi tiếng Việt: ra đời khi nào, tác phẩm tiêu biểu, vì sao khó học, vì sao không trở thành chữ chính thức.Từ điển Việt – Bồ – La (1651) và Alexandre de Rhodes: cuốn sách mốc của chữ Quốc ngữTừ điển Việt – Bồ – La in ở Rome năm 1651: nội dung, cách ghi tiếng Việt khác ngày nay ra sao, vai trò của Alexandre de Rhodes và những người đi trước.Gia Định báo và buổi đầu báo chí chữ Quốc ngữGia Định báo (1865), tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên, cùng Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của và vai trò của báo chí trong việc hình thành văn xuôi, chính tả tiếng Việt.Truyền bá chữ Quốc ngữ: từ Đông Kinh Nghĩa Thục đến Bình dân học vụBa chặng đưa chữ Quốc ngữ đến số đông: Đông Kinh Nghĩa Thục 1907, Hội Truyền bá Quốc ngữ 1938, Nha Bình dân học vụ 9/1945 — cách dạy, cách học, kết quả.Vì sao viết ph, nh, gh, gi, đ, ư, ơ: nguồn gốc các chữ cái tiếng ViệtNguồn gốc các chữ cái và chữ ghép tiếng Việt: nh từ tiếng Bồ Đào Nha, gh và ngh theo lối Ý, ph th kh, c k q, đ ư ơ ă â và năm dấu thanh — kèm ví dụ cụ thể.Vì sao tiếng Việt dùng chữ Latinh, còn tiếng Hàn, tiếng Nhật thì khôngVì sao tiếng Việt chuyển sang chữ Latinh trong khi Hàn có Hangul, Nhật giữ kanji và kana: so sánh lịch sử, cấu trúc ngôn ngữ, đồng âm và cái giá phải trả.Chữ viết của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam: gốc Ấn, gốc Hán và chữ LatinhChữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chia ba dòng: chữ gốc Ấn (Thái, Khmer, Chăm), chữ gốc Hán (Nôm Tày, Nôm Dao) và chữ Latinh (Mông, Tày – Nùng, Tây Nguyên).Chữ Chăm: bộ chữ gốc Ấn của người Chăm, từ bia đá đến lớp học hôm nayChữ Chăm có nguồn gốc Ấn Độ, từ văn khắc trên bia tháp Chăm cổ đến chữ Akhar Thrah dạy trong trường: cấu tạo, các dạng chữ, chữ Chăm theo cộng đồng tôn giáo.Gõ tiếng Việt: Telex, VNI, VIQR, bảng mã TCVN3 và Unicode dựng sẵn, tổ hợpGõ tiếng Việt trên máy tính, điện thoại: bảng so sánh Telex, VNI, VIQR; bảng mã cũ TCVN3, VNI-Windows; Unicode dựng sẵn và tổ hợp; cách sửa lỗi font, lỗi dấu.

Bài do Wiki Ngôn Ngữ biên soạn, phát hành theo CC BY-SA 4.0 — được chép, sửa, dùng lại nếu ghi nguồn và giữ cùng giấy phép. Thấy chỗ chưa đúng, gửi thư về info@ngonngu.com kèm đường dẫn bài.