Chữ Nôm được tạo ra thế nào: mượn nguyên, mượn âm, mượn nghĩa và ghép chữ
Cách cấu tạo chữ Nôm: mượn nguyên chữ Hán lấy âm hoặc nghĩa, ghép thành phần gợi âm với gợi nghĩa, ghép hai nghĩa, thêm dấu báo đọc chệch. Có ví dụ cụ thể.
Nội dung bài
Mỗi chữ Nôm là lời giải cho một bài toán: dùng những ký tự vốn để ghi tiếng Hán, làm sao ghi được một tiếng Việt cụ thể? Người xưa không có một bộ quy tắc chung, nhưng khi xếp hàng nghìn chữ Nôm lại, các nhà nghiên cứu thấy chúng rơi vào vài nhóm phương thức khá rõ. Cách chia nhóm cụ thể khác nhau giữa các tác giả; dưới đây là cách chia phổ biến, đi từ đơn giản đến phức tạp.
Nhóm 1: Mượn nguyên chữ Hán
Đây là cách dễ nhất: lấy một chữ Hán có sẵn, viết nguyên hình, nhưng dùng nó theo một trong mấy kiểu sau.
Mượn cả âm lẫn nghĩa
Chữ Hán được dùng với đúng nghĩa và đọc theo âm Hán Việt, vì tiếng Việt đã vay luôn từ đó. Ví dụ chữ 學 đọc học, chữ 心 đọc tâm. Khi những chữ này xuất hiện trong văn bản Nôm, chúng là từ Hán Việt nằm trong câu tiếng Việt.
Mượn âm, bỏ nghĩa
Chữ Hán chỉ được dùng như một "ký hiệu ghi âm": âm Hán Việt của nó trùng hoặc gần với tiếng Việt cần ghi, còn nghĩa gốc bị bỏ qua. Đây là nhóm rất đông.
| Chữ Hán | Âm Hán Việt | Nghĩa gốc | Dùng để ghi |
|---|---|---|---|
| 沒 | một | chìm, mất | một (số đếm) |
| 埃 | ai | bụi | ai (người nào) |
| 固 | cố | bền, vững | có |
| 群 | quần | bầy, đàn | còn |
Lưu ý hai dòng cuối: âm Hán Việt không trùng hẳn tiếng Việt (cố – có, quần – còn). Người đọc phải tự biết "đọc trại" đi. Đây là nguồn gốc của rất nhiều chỗ khó và chỗ tranh cãi khi đọc văn bản Nôm.
Mượn nghĩa, đọc theo tiếng Việt
Ít gặp hơn: chữ Hán được dùng vì nghĩa, nhưng đọc bằng tiếng Việt tương đương. Kiểu này giống cách người Nhật đọc chữ Hán theo âm Nhật (kun-yomi). Trong chữ Nôm, phần lớn các trường hợp loại này liên quan đến lớp từ gốc Hán vào tiếng Việt từ rất sớm, nên ranh giới với nhóm "mượn cả âm lẫn nghĩa" không phải lúc nào cũng rạch ròi.
Nhóm 2: Ghép một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa
Đây là nhóm đặc trưng nhất của chữ Nôm, mô phỏng phương thức hình thanh của chữ Hán. Một thành phần (thường là một chữ Hán có âm gần) cho biết cách đọc; thành phần kia (thường là một bộ thủ hoặc chữ Hán có nghĩa liên quan) cho biết nghĩa, giúp phân biệt với các chữ đồng âm.
| Chữ Nôm | Đọc | Phần gợi âm | Phần gợi nghĩa |
|---|---|---|---|
| 𠀧 | ba | 巴 (ba) | 三 (tam – số ba) |
| 𢆥 | năm (năm tháng) | 南 (nam) | 年 (niên – năm) |
| 𡨸 | chữ | 宁 (trữ) | 字 (tự – chữ) |
| 𠊛 | người | 㝵 (ngại) | 人 (nhân – người) |
Nhìn bảng sẽ thấy phần gợi âm cũng chỉ "gần đúng": nam để gợi năm, ngại để gợi người, trữ để gợi chữ. Phần gợi nghĩa giúp người đọc biết đây là chữ năm chỉ thời gian chứ không phải số năm; với số năm (5) người xưa dùng một chữ khác, có thành phần gợi nghĩa là số đếm.
Dấu vết phụ âm cổ
Một số chữ ghép hai thành phần đều gợi âm. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là cách ghi những tổ hợp phụ âm đầu của tiếng Việt xưa, kiểu "bl", "tl", về sau mới biến thành tr, gi, l… Ví dụ hay được dẫn là chữ trăm, viết bằng 百 (bách) ghép với 林 (lâm): phần đầu gợi âm b-, phần sau gợi -lăm. Chữ Nôm vì vậy là chứng cứ quý cho lịch sử ngữ âm, đặt cạnh các cách ghi như "blời" (trời) trong từ điển năm 1651 (xem Từ điển Việt – Bồ – La).
Nhóm 3: Ghép hai phần cùng gợi nghĩa
Mô phỏng phương thức hội ý của chữ Hán: hai chữ có nghĩa ghép lại để gợi ra một nghĩa mới, không có phần nào ghi âm. Ví dụ quen thuộc nhất là chữ trời 𡗶, gồm 天 (thiên – trời) đặt trên 上 (thượng – trên): "cái ở trên cao là trời". Nhóm này ít hơn nhiều so với nhóm hình thanh, vì không cho biết cách đọc nên khó nhớ và dễ đọc nhầm.
Nhóm 4: Biến đổi chữ Hán, thêm dấu báo hiệu
Để cảnh báo người đọc rằng chữ này "không đọc như chữ Hán", người viết có thể thêm một ký hiệu nhỏ. Hay gặp nhất là bộ khẩu 口 thêm bên trái một chữ mượn âm, ngụ ý "đọc chệch đi, đây là lời nói". Có khi người ta thêm một dấu nháy nhỏ ở góc chữ với ý tương tự. Ngoài ra còn kiểu giản lược: bớt nét một chữ Hán phức tạp để viết nhanh, tạo ra dạng chữ chỉ dùng trong văn bản Nôm.
Bảng tổng hợp các phương thức
| Phương thức | Cách làm | Ưu điểm | Nhược điểm |
|---|---|---|---|
| Mượn cả âm, nghĩa | Dùng nguyên chữ Hán, đọc Hán Việt | Dễ, không cần chữ mới | Chỉ dùng cho từ gốc Hán |
| Mượn âm | Dùng chữ Hán có âm gần | Nhanh, linh hoạt | Một chữ ghi nhiều tiếng, dễ nhầm |
| Mượn nghĩa | Dùng chữ Hán, đọc tiếng Việt | Giữ được nghĩa | Không gợi cách đọc |
| Âm + nghĩa (hình thanh) | Ghép phần gợi âm và phần gợi nghĩa | Phân biệt rõ đồng âm | Nhiều nét, nhiều dị thể |
| Nghĩa + nghĩa (hội ý) | Ghép hai chữ có nghĩa | Dễ hiểu ý | Không gợi âm, số lượng ít |
| Thêm dấu, bớt nét | Thêm 口 hoặc dấu nháy; giản lược | Báo hiệu đọc Nôm | Không thống nhất giữa các người viết |
Vì sao cùng một tiếng lại có nhiều chữ Nôm?
Vì không có cơ quan nào ban hành chuẩn, mỗi người viết chọn phương thức và thành phần theo thói quen và vốn chữ Hán của mình. Một tiếng như năm có thể được ghi bằng chữ mượn âm 南, hoặc chữ ghép có thêm 年, hoặc một dạng giản lược. Ngược lại, chữ 南 trong văn bản Nôm có thể là nam (phương nam) hoặc năm, phải nhìn ngữ cảnh mới biết. Hiện tượng "một chữ nhiều cách viết, một mặt chữ nhiều cách đọc" là lý do chữ Nôm khó học và là đề tài của các bộ từ điển chữ Nôm hiện đại.
Không chỉ người Việt làm thế
Dùng chữ Hán để ghi ngôn ngữ của mình là lời giải mà nhiều dân tộc trong vùng cùng tìm tới. Người Triều Tiên xưa có những lối ghi tiếng Hàn bằng chữ Hán (mượn âm, mượn nghĩa) trước khi có chữ Hangul. Người Nhật đọc chữ Hán theo cả âm Hán lẫn âm Nhật, rồi giản lược chữ Hán thành hai bộ chữ kana. Người Choang ở miền nam Trung Quốc có "chữ vuông Choang", cấu tạo rất giống chữ Nôm: ghép phần gợi âm với phần gợi nghĩa. Điểm riêng của chữ Nôm là quy mô — một kho văn chương đồ sộ, đỉnh cao như Truyện Kiều, được viết hoàn toàn bằng hệ chữ này.
Đọc chữ Nôm cần biết gì?
- Chữ Hán và âm Hán Việt: vì mọi thành phần chữ Nôm đều là chữ Hán. Xem Chữ Hán ở Việt Nam.
- Bộ thủ: để đoán phần nào gợi nghĩa, phần nào gợi âm.
- Quy luật biến âm giữa âm Hán Việt và tiếng Việt: cố – có, quần – còn, nam – năm. Hiểu cấu trúc âm tiết tiếng Việt giúp đoán nhanh hơn.
- Ngữ cảnh và luật thơ: vần, nhịp giúp chọn cách đọc đúng trong số nhiều khả năng.
Hỏi đáp nhanh
Chữ Nôm có mấy cách cấu tạo?
Có nhiều cách chia, nhưng phổ biến là hai nhóm lớn: mượn nguyên chữ Hán (lấy cả âm nghĩa, chỉ lấy âm, hoặc chỉ lấy nghĩa) và tạo chữ mới bằng cách ghép (một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa, hoặc hai phần cùng gợi nghĩa). Ngoài ra còn kiểu thêm dấu báo hiệu và giản lược nét.
Chữ trời trong chữ Nôm viết thế nào?
Một cách viết quen thuộc là ghép chữ thiên (trời) đặt trên chữ thượng (trên), tức là ghép hai phần cùng gợi nghĩa. Đây là ví dụ hay được dẫn cho kiểu chữ Nôm hội ý.
Vì sao chữ Nôm thêm bộ khẩu?
Bộ khẩu thêm vào một chữ mượn âm thường để báo hiệu chữ đó phải đọc theo tiếng Việt, chệch khỏi âm Hán Việt gốc. Cách dùng này không thống nhất giữa mọi người viết.
Phần lớn chữ Nôm thuộc loại nào?
Hai loại đông nhất là chữ mượn âm của chữ Hán và chữ ghép một phần gợi âm với một phần gợi nghĩa. Loại ghép hai phần cùng gợi nghĩa ít hơn nhiều.