Wiki.NgonNgu.comTừ điển & tra cứu tiếng Việt

Gõ tiếng Việt: Telex, VNI, VIQR, bảng mã TCVN3 và Unicode dựng sẵn, tổ hợp

Gõ tiếng Việt trên máy tính, điện thoại: bảng so sánh Telex, VNI, VIQR; bảng mã cũ TCVN3, VNI-Windows; Unicode dựng sẵn và tổ hợp; cách sửa lỗi font, lỗi dấu.

Chữ viết 6 phút đọc · cập nhật 30/10/2026

Nội dung bài
  1. Ba kiểu gõ phổ biến: Telex, VNI, VIQR
  2. Bảng mã: chữ được lưu thế nào
  3. Unicode dựng sẵn và Unicode tổ hợp
  4. Lỗi thường gặp và cách sửa
  5. Phông chữ: Unicode chưa đủ, phông phải có chữ Việt
  6. Đặt dấu kiểu cũ hay kiểu mới
  7. Mẹo gõ nhanh và đúng
  8. Hỏi đáp nhanh

Tiếng Việt có 12 chữ cái nguyên âm (a, ă, â, e, ê, i, y, o, ô, ơ, u, ư), cộng 5 dấu thanh, nên một chữ như ữ hay ệ mang tới hai dấu. Bàn phím máy tính thiết kế cho tiếng Anh không có sẵn những chữ này. Để gõ tiếng Việt, cần hai thứ tách biệt: một kiểu gõ (cách bấm phím để ra chữ có dấu) và một bảng mã (cách máy tính lưu chữ đó thành dữ liệu). Nhầm hai khái niệm này là nguyên nhân của phần lớn lỗi "gõ không ra dấu" hay "chữ bị vỡ".

Ba kiểu gõ phổ biến: Telex, VNI, VIQR

Kiểu gõ là quy ước "bấm phím gì ra dấu gì". Bộ gõ (như các bộ gõ tiếng Việt trên Windows, bàn phím tiếng Việt có sẵn trên macOS, iOS, Android) đọc chuỗi phím và thay bằng chữ có dấu.

Muốn cóTelexVNIVIQR
dấu sắc (á)asa1a'
dấu huyền (à)afa2a`
dấu hỏi (ả)ara3a?
dấu ngã (ã)axa4a~
dấu nặng (ạ)aja5a.
â, ê, ôaa, ee, ooa6, e6, o6a^, e^, o^
ơ, ưow, uw (hoặc w)o7, u7o+, u+
ăawa8a(
đddd9dd
xoá dấuz0—

Ví dụ gõ chữ người: Telex là nguwowif (hoặc nguwowfi, đa số bộ gõ cho đặt phím dấu ở cuối từ), VNI là ngu7o7i2. Chữ đường: Telex dduwowngf, VNI d9u7o7ng2.

Nên chọn kiểu nào?

  • Telex: tay không rời hàng phím chữ, gõ nhanh; là kiểu phổ biến nhất hiện nay và là kiểu mặc định của nhiều bàn phím điện thoại. Nhược điểm: gõ từ tiếng Anh có chữ w, s, f, r, x, j dễ bị biến thành dấu — gõ "Windows" có thể ra "Ưindows". Nhiều bộ gõ có tuỳ chọn tự khôi phục từ không phải tiếng Việt.
  • VNI: dùng phím số, không đụng chữ cái, nên ít nhầm khi gõ lẫn tiếng Anh; nhưng phải với tay lên hàng số, chậm hơn khi gõ nhiều.
  • VIQR: dùng dấu câu tượng hình (' ` ? ~ .), ra đời cho môi trường chỉ có chữ ASCII như thư điện tử, diễn đàn thời đầu Internet. Nay chủ yếu còn dùng khi muốn viết tiếng Việt có dấu trong môi trường không gõ được dấu.

Bảng mã: chữ được lưu thế nào

Gõ xong, chữ ệ phải được lưu thành những con số. Cách quy đổi chữ thành số gọi là bảng mã. Trước khi Unicode phổ biến, Việt Nam có nhiều bảng mã 8 bit cạnh tranh nhau:

Bảng mãPhông chữ đi kèm (ví dụ)Đặc điểm
TCVN3 (còn gọi ABC).VnTime, .VnArialChữ hoa có dấu nằm ở phông riêng (.VnTimeH); từng rất phổ biến trong văn bản hành chính
VNI-WindowsVNI-Times, VNI-HelveMột chữ có dấu có thể tạo từ hai ký tự
VISCII, VPSPhông riêng của từng bảngÍt gặp hơn
UnicodeTimes New Roman, Arial và hầu hết phông hiện đạiChuẩn quốc tế, mọi ngôn ngữ trong một bảng

Vấn đề của bảng mã 8 bit: dữ liệu chỉ đọc đúng khi dùng đúng phông. Một văn bản TCVN3 mở bằng phông Unicode sẽ ra chuỗi ký tự lạ, chữ tiếng Việt có thể hiện thành những ký hiệu như "tiÕng ViÖt". Đây là "lỗi font" quen thuộc khi mở hồ sơ cũ.

Unicode dựng sẵn và Unicode tổ hợp

Ngay trong Unicode, một chữ có dấu cũng có thể lưu theo hai cách:

  • Dựng sẵn (precomposed, chuẩn hoá NFC): mỗi chữ có dấu là một ký tự riêng. Chữ ệ là một ký tự duy nhất.
  • Tổ hợp (decomposed, NFD): chữ gốc cộng các dấu kết hợp. Chữ ệ = e + dấu mũ + dấu nặng, tức ba ký tự.

Trên màn hình hai cách trông giống hệt nhau, nhưng máy tính coi là hai chuỗi khác nhau. Hệ quả thực tế: tìm kiếm không ra kết quả dù chữ "nhìn thấy rõ ràng", sắp xếp sai, đếm số ký tự sai, tên tệp gõ trên máy này không khớp máy kia. Khuyến nghị chung là dùng Unicode dựng sẵn — đây là lựa chọn mặc định của hầu hết bộ gõ tiếng Việt hiện nay. Khi xử lý dữ liệu, lập trình viên nên chuẩn hoá chuỗi về NFC trước khi so sánh.

Lỗi thường gặp và cách sửa

Hiện tượngNguyên nhân thường gặpCách xử lý
Gõ ra "aa", "as" thay vì â, áBộ gõ chưa bật hoặc đang ở chế độ tiếng AnhBật bộ gõ, chọn đúng kiểu gõ
Chữ có dấu thành ô vuông hoặc ký hiệu lạVăn bản dùng bảng mã cũ (TCVN3, VNI) nhưng mở bằng phông UnicodeDùng công cụ chuyển mã để chuyển sang Unicode
Chữ hiện thành dạng "Việt"Dữ liệu UTF-8 bị đọc nhầm thành bảng mã Latin-1Mở lại tệp với mã hoá UTF-8
Dấu nhảy lung tung, gõ "hoà" ra "hoaf"Bộ gõ trên trình duyệt xung đột với tính năng tự sửa, gợi ý từTắt tự sửa của ứng dụng, thử chế độ gõ khác của bộ gõ
Tìm kiếm không thấy chữ có dấuLẫn Unicode dựng sẵn và tổ hợpChuẩn hoá văn bản về dựng sẵn

Phông chữ: Unicode chưa đủ, phông phải có chữ Việt

Unicode chỉ quy định mã số của chữ; hình dạng chữ do phông quyết định. Không phải phông Unicode nào cũng vẽ đủ các chữ có dấu tiếng Việt. Khi phông thiếu, hệ điều hành mượn chữ từ phông khác, và người đọc thấy một từ mà vài chữ cái "lệch" kiểu, dấu đặt sai cao độ hoặc chồng lên nhau. Khi chọn phông cho văn bản, bài trình chiếu hay trang web, nên kiểm tra phông có hỗ trợ tiếng Việt: gõ thử câu có đủ dấu chồng như "Những người Việt ở Huế ưa uống trà" và xem chữ ữ, ệ, ế, ố hiển thị có đều không. Với web, nhiều thư viện phông cho chọn riêng bộ ký tự tiếng Việt.

Đặt dấu kiểu cũ hay kiểu mới

Bộ gõ thường có tuỳ chọn vị trí dấu thanh: kiểu cũ đặt dấu ở nguyên âm đầu trong các vần oa, oe, uy (hòa, thúy), kiểu mới đặt ở nguyên âm sau (hoà, thuý). Cả hai đều đang được dùng; điều quan trọng là thống nhất trong cùng một văn bản, vì hoà và hòa là hai chuỗi ký tự khác nhau với máy tìm kiếm. Quy tắc chi tiết ở bài Vị trí đặt dấu thanh.

Mẹo gõ nhanh và đúng

  1. Gõ dấu cuối từ: hầu hết bộ gõ cho phép gõ hết chữ rồi mới gõ phím dấu, bộ gõ tự đặt dấu đúng vị trí. Gõ truongwf hay truwowngf đều có thể ra trường tuỳ bộ gõ.
  2. Bật kiểm tra chính tả tiếng Việt nếu bộ gõ có, để chặn những tổ hợp không có trong tiếng Việt.
  3. Dùng gõ tắt cho cụm dài lặp lại (tên cơ quan, địa chỉ).
  4. Văn bản gửi đi phải dùng Unicode: người nhận không cần cài phông đặc biệt.
  5. Điện thoại: bàn phím tiếng Việt có sẵn hỗ trợ cả kiểu Telex, VNI và kiểu chọn dấu bằng cách giữ phím; nên tắt gợi ý tự sửa khi gõ tên riêng.

Chữ Quốc ngữ ra đời từ thế kỷ 17 cho bút lông ngỗng và máy in chì (xem Lịch sử chữ Quốc ngữ); việc đưa hệ dấu dày đặc ấy vào máy tính là một chặng đường riêng, và Unicode dựng sẵn là điểm dừng ổn định nhất hiện nay.

Hỏi đáp nhanh

Telex và VNI khác nhau thế nào?

Telex dùng chữ cái để gõ dấu, ví dụ s là sắc, f là huyền, aa là â; VNI dùng phím số, ví dụ 1 là sắc, 2 là huyền, 6 là dấu mũ. Telex nhanh hơn vì tay không rời hàng phím chữ, VNI ít nhầm khi gõ lẫn tiếng Anh.

Vì sao mở văn bản cũ bị lỗi font?

Văn bản cũ thường dùng bảng mã TCVN3 hoặc VNI-Windows, chỉ đọc đúng với phông riêng của bảng mã đó. Mở bằng phông Unicode sẽ ra ký tự lạ; cần dùng công cụ chuyển mã sang Unicode.

Unicode dựng sẵn và Unicode tổ hợp khác nhau ra sao?

Dựng sẵn lưu mỗi chữ có dấu thành một ký tự, tổ hợp lưu chữ gốc cộng các dấu riêng. Hiển thị giống nhau nhưng máy tính coi là chuỗi khác nhau, nên nên dùng dựng sẵn để tìm kiếm và sắp xếp đúng.

Nên dùng bảng mã nào để soạn văn bản?

Nên dùng Unicode, cụ thể là Unicode dựng sẵn. Đây là chuẩn quốc tế, đọc đúng trên mọi máy và mọi phông chữ hiện đại.

VIQR là gì?

VIQR là cách viết tiếng Việt bằng ký tự ASCII, dùng dấu câu thay dấu thanh như a' là á, a` là à, a? là ả. Nó ra đời cho thư điện tử và diễn đàn thời đầu Internet khi chưa gõ được chữ có dấu.

Tra tiếp

Cùng nhóm chữ viết

Lịch sử chữ Quốc ngữ: từ ghi chép của giáo sĩ đến chữ viết của cả nướcLịch sử chữ Quốc ngữ qua các chặng: giáo sĩ thế kỷ 17, từ điển 1651, Gia Định báo 1865, Đông Kinh Nghĩa Thục, Bình dân học vụ — công trình của nhiều người.Chữ Hán ở Việt Nam: cách đọc Hán Việt, vai trò và dấu vết còn lạiChữ Hán ở Việt Nam: vào từ thời Bắc thuộc, đọc theo âm Hán Việt, là chữ của triều đình và khoa cử, phân biệt chữ Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt.Chữ Nôm: chữ viết của tiếng Việt thời trung đạiChữ Nôm là chữ dựa trên chữ Hán để ghi tiếng Việt: ra đời khi nào, tác phẩm tiêu biểu, vì sao khó học, vì sao không trở thành chữ chính thức.Chữ Nôm được tạo ra thế nào: mượn nguyên, mượn âm, mượn nghĩa và ghép chữCách cấu tạo chữ Nôm: mượn nguyên chữ Hán lấy âm hoặc nghĩa, ghép thành phần gợi âm với gợi nghĩa, ghép hai nghĩa, thêm dấu báo đọc chệch. Có ví dụ cụ thể.Từ điển Việt – Bồ – La (1651) và Alexandre de Rhodes: cuốn sách mốc của chữ Quốc ngữTừ điển Việt – Bồ – La in ở Rome năm 1651: nội dung, cách ghi tiếng Việt khác ngày nay ra sao, vai trò của Alexandre de Rhodes và những người đi trước.Gia Định báo và buổi đầu báo chí chữ Quốc ngữGia Định báo (1865), tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên, cùng Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của và vai trò của báo chí trong việc hình thành văn xuôi, chính tả tiếng Việt.Truyền bá chữ Quốc ngữ: từ Đông Kinh Nghĩa Thục đến Bình dân học vụBa chặng đưa chữ Quốc ngữ đến số đông: Đông Kinh Nghĩa Thục 1907, Hội Truyền bá Quốc ngữ 1938, Nha Bình dân học vụ 9/1945 — cách dạy, cách học, kết quả.Vì sao viết ph, nh, gh, gi, đ, ư, ơ: nguồn gốc các chữ cái tiếng ViệtNguồn gốc các chữ cái và chữ ghép tiếng Việt: nh từ tiếng Bồ Đào Nha, gh và ngh theo lối Ý, ph th kh, c k q, đ ư ơ ă â và năm dấu thanh — kèm ví dụ cụ thể.Vì sao tiếng Việt dùng chữ Latinh, còn tiếng Hàn, tiếng Nhật thì khôngVì sao tiếng Việt chuyển sang chữ Latinh trong khi Hàn có Hangul, Nhật giữ kanji và kana: so sánh lịch sử, cấu trúc ngôn ngữ, đồng âm và cái giá phải trả.Chữ viết của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam: gốc Ấn, gốc Hán và chữ LatinhChữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chia ba dòng: chữ gốc Ấn (Thái, Khmer, Chăm), chữ gốc Hán (Nôm Tày, Nôm Dao) và chữ Latinh (Mông, Tày – Nùng, Tây Nguyên).Chữ Chăm: bộ chữ gốc Ấn của người Chăm, từ bia đá đến lớp học hôm nayChữ Chăm có nguồn gốc Ấn Độ, từ văn khắc trên bia tháp Chăm cổ đến chữ Akhar Thrah dạy trong trường: cấu tạo, các dạng chữ, chữ Chăm theo cộng đồng tôn giáo.

Bài do Wiki Ngôn Ngữ biên soạn, phát hành theo CC BY-SA 4.0 — được chép, sửa, dùng lại nếu ghi nguồn và giữ cùng giấy phép. Thấy chỗ chưa đúng, gửi thư về info@ngonngu.com kèm đường dẫn bài.