Chữ Hán ở Việt Nam: cách đọc Hán Việt, vai trò và dấu vết còn lại
Chữ Hán ở Việt Nam: vào từ thời Bắc thuộc, đọc theo âm Hán Việt, là chữ của triều đình và khoa cử, phân biệt chữ Hán, âm Hán Việt và từ Hán Việt.
Nội dung bài
- Chữ Hán đến Việt Nam từ bao giờ
- Âm Hán Việt: đọc chữ Hán theo cách của người Việt
- Ba khái niệm hay bị trộn lẫn
- Chữ của triều đình, khoa cử và văn chương bác học
- Chữ Hán và chữ Nôm, chữ Quốc ngữ
- Kiêng huý: khi chữ Hán làm đổi cả cách đọc
- So với Triều Tiên và Nhật Bản
- Dấu vết chữ Hán trong đời sống hôm nay
- Hỏi đáp nhanh
Trong gần hai nghìn năm, chữ Hán là chữ viết của nhà nước, của sách vở và thi cử ở Việt Nam. Người Việt viết chữ Hán nhưng không đọc theo tiếng Hán: mỗi chữ được đọc bằng một âm riêng gọi là âm Hán Việt. Hiểu chữ Hán ở Việt Nam là hiểu nguồn gốc của một phần rất lớn vốn từ tiếng Việt hôm nay — từ quốc gia, học sinh đến thi sĩ.
Chữ Hán đến Việt Nam từ bao giờ
Chữ Hán vào vùng đất người Việt chủ yếu theo con đường hành chính và giáo dục trong thời kỳ Bắc thuộc, khi vùng này bị các triều đại phương Bắc cai trị. Thời điểm cụ thể chữ Hán bắt đầu được người Việt dùng thì các nhà nghiên cứu chưa thống nhất; điều chắc chắn là sau khi giành độc lập vào thế kỷ 10, các triều đại Việt vẫn giữ chữ Hán làm chữ viết chính thức.
Điều đó không có nghĩa người Việt nói tiếng Hán. Ngôn ngữ hằng ngày vẫn là tiếng Việt; chữ Hán giống như tiếng Latinh ở châu Âu thời trung cổ — một ngôn ngữ viết của giới có học, dùng chung trong cả vùng văn hoá chữ Hán gồm Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.
Âm Hán Việt: đọc chữ Hán theo cách của người Việt
Theo quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận, hệ thống âm Hán Việt hình thành chủ yếu từ cách đọc chữ Hán khoảng thời nhà Đường (tức tiếng Hán trung cổ), rồi phát triển theo quy luật ngữ âm của tiếng Việt. Vì vậy âm Hán Việt hôm nay khác hẳn cách đọc tiếng Phổ thông Trung Quốc, nhưng nhiều khi lại giữ được nét cổ mà tiếng Phổ thông đã mất, ví dụ các âm cuối -p, -t, -c.
| Chữ | Âm Hán Việt | Nghĩa | Từ tiếng Việt có chứa |
|---|---|---|---|
| 人 | nhân | người | nhân dân, nhân loại |
| 水 | thủy | nước | thủy lợi, thủy triều |
| 山 | sơn | núi | sơn hà, giang sơn |
| 學 | học | học | học sinh, đại học |
| 國 | quốc | nước (quốc gia) | quốc ca, quốc kỳ |
Một chữ có thể có nhiều âm Hán Việt tuỳ nghĩa. Chữ 行 đọc là hành (đi, làm: hành động), là hàng (hàng lối, nghề: ngân hàng) hoặc hạnh (nết: đức hạnh). Chữ 樂 đọc là lạc (vui: lạc quan) hoặc nhạc (âm nhạc).
Ba khái niệm hay bị trộn lẫn
Khi nói "chữ Hán" trong tiếng Việt, người ta hay gộp ba thứ khác nhau:
- Chữ Hán: ký tự viết, như 國家. Đây là chữ viết, không phải từ tiếng Việt.
- Âm Hán Việt: cách người Việt đọc từng chữ, như quốc, gia.
- Từ Hán Việt: từ của tiếng Việt có gốc Hán, viết bằng chữ Quốc ngữ, như quốc gia. Từ Hán Việt là một phần của tiếng Việt, dùng được mà không cần biết mặt chữ Hán.
Ngoài ra còn lớp từ gốc Hán vào tiếng Việt sớm hơn, đã bị Việt hoá về âm đến mức người nói không nhận ra, thường gọi là từ cổ Hán Việt hoặc từ Hán Việt hoá. Những cặp hay được dẫn: chè – trà, buồng – phòng, mùi – vị, gương – kính, bùa – phù. Mỗi cặp là hai lớp vay mượn của cùng một gốc, ở hai thời điểm khác nhau. Chi tiết về lớp từ này ở bài Từ Hán Việt.
Chữ của triều đình, khoa cử và văn chương bác học
Từ thời Lý, Trần, Lê đến Nguyễn, mọi văn bản nhà nước — chiếu, chỉ, sắc phong, luật lệ, sử sách — đều viết bằng chữ Hán. Những áng văn mà học sinh Việt Nam học thuộc phần lớn nguyên tác là chữ Hán: Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, bài thơ Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Khi đọc trong sách giáo khoa, ta thường đọc bản phiên âm Hán Việt kèm bản dịch nghĩa.
Khoa cử là cột chống quan trọng nhất của chữ Hán. Muốn làm quan phải đỗ thi, và thi bằng chữ Hán, nên người có học từ nhỏ đã học Tam tự kinh, Tứ thư, Ngũ kinh. Theo sử cũ, khoa thi đầu tiên được mở năm 1075 đời Lý. Khoa cử chữ Hán chấm dứt trong những năm 1910, và từ đó vị trí của chữ Hán suy giảm nhanh.
Chữ Hán và chữ Nôm, chữ Quốc ngữ
Chữ Hán ghi tiếng Hán văn ngôn, không ghi được lời nói tiếng Việt. Để ghi tiếng Việt, người xưa tạo ra chữ Nôm từ chất liệu chữ Hán. Hai thứ chữ cùng tồn tại: chữ Hán cho việc quan, chữ Nôm cho thơ ca, truyện thơ bằng tiếng Việt. Từ cuối thế kỷ 19 và nhất là đầu thế kỷ 20, chữ Quốc ngữ dần thay thế cả hai (xem Lịch sử chữ Quốc ngữ).
| Chữ Hán | Chữ Nôm | Chữ Quốc ngữ | |
|---|---|---|---|
| Ghi ngôn ngữ nào | Hán văn (văn ngôn) | Tiếng Việt | Tiếng Việt |
| Đơn vị chữ | Ký tự biểu ý | Ký tự dựa trên chữ Hán | Chữ cái ghi âm |
| Vai trò chính | Hành chính, khoa cử, sử sách | Văn chương tiếng Việt | Mọi lĩnh vực hiện nay |
| Muốn đọc cần | Học thuộc nhiều nghìn chữ | Biết chữ Hán làm nền | Nắm quy tắc ghép âm |
Kiêng huý: khi chữ Hán làm đổi cả cách đọc
Một tục lệ gắn với chữ Hán là kiêng huý: không được viết hay đọc đúng tên vua, hoàng hậu và tổ tiên nhà vua. Người viết phải bớt nét chữ hoặc thay bằng chữ khác; người đọc phải đọc trại đi. Theo cách giải thích phổ biến, nhiều cặp âm đọc lệch nhau ở Nam Bộ và Trung Bộ có gốc từ lệ kiêng huý thời các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn: Phúc đọc thành Phước, Hoa đọc thành Huê. Ngày nay tên người và địa danh vẫn còn giữ dạng đọc trại ấy, như tên riêng Phước rất phổ biến ở miền Nam. Đây là ví dụ hiếm thấy về việc một quy định liên quan đến chữ viết để lại dấu vết lâu dài trong lời nói.
So với Triều Tiên và Nhật Bản
Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản đều mượn chữ Hán và đều có hệ thống âm Hán riêng: âm Hán Việt, âm Hán Hàn, âm On của Nhật. Vì vậy nhiều từ nghe khá gần nhau ở ba nước. Chẳng hạn chữ 國家 tiếng Việt đọc quốc gia, tiếng Hàn đọc gần như "kukka". Điểm khác: tiếng Nhật vẫn dùng chữ Hán (kanji) trong chữ viết hằng ngày, tiếng Hàn chủ yếu dùng chữ Hangul và chỉ dùng chữ Hán hạn chế, còn tiếng Việt đã chuyển hẳn sang chữ Latinh. Lý do được bàn ở bài Vì sao tiếng Việt dùng chữ Latinh.
Dấu vết chữ Hán trong đời sống hôm nay
- Từ vựng: phần lớn thuật ngữ khoa học, chính trị, pháp luật là từ Hán Việt: hiến pháp, kinh tế, giáo dục.
- Đình, chùa, miếu: hoành phi, câu đối, văn bia hầu hết viết chữ Hán.
- Gia phả, sắc phong: nhiều dòng họ vẫn giữ giấy tờ chữ Hán, cần người đọc được để dịch.
- Tết: tục xin chữ đầu năm với những chữ như 福 (phúc), 心 (tâm), 忍 (nhẫn).
- Chính tả: biết nghĩa yếu tố Hán Việt giúp viết đúng, ví dụ sát trong quan sát (xem xét) khác xát trong cọ xát. Xem chính tả.
Hiểu đúng vai trò của chữ Hán giúp tránh hai thái cực: xem từ Hán Việt là "từ ngoại lai" cần loại bỏ, hoặc lạm dụng từ Hán Việt khi đã có từ thuần Việt rõ nghĩa hơn. Cả hai lớp từ đều là tiếng Việt; chọn từ nào là chuyện phong cách và hoàn cảnh.
Hỏi đáp nhanh
Chữ Hán có phải là chữ của tiếng Việt không?
Chữ Hán là chữ viết của tiếng Hán văn ngôn, người Việt dùng làm chữ viết chính thức trong nhiều thế kỷ nhưng đọc theo âm Hán Việt. Để ghi lời nói tiếng Việt, người xưa dùng chữ Nôm, và ngày nay dùng chữ Quốc ngữ.
Âm Hán Việt khác tiếng Trung hiện đại thế nào?
Âm Hán Việt hình thành chủ yếu từ cách đọc chữ Hán khoảng thời Đường rồi biến đổi theo tiếng Việt, nên khác xa tiếng Phổ thông ngày nay. Nó còn giữ các âm cuối -p, -t, -c mà tiếng Phổ thông đã mất.
Từ Hán Việt có phải là tiếng nước ngoài không?
Không. Từ Hán Việt có gốc Hán nhưng đã là một bộ phận của tiếng Việt từ lâu, được viết bằng chữ Quốc ngữ và dùng theo ngữ pháp tiếng Việt.
Vì sao chữ Hán không còn được dùng ở Việt Nam?
Khoa cử chữ Hán chấm dứt trong những năm 1910 khiến chữ Hán mất chỗ dựa thể chế, đồng thời chữ Quốc ngữ dễ học và được báo chí, phong trào xoá mù chữ phổ biến rộng rãi.
Học chữ Hán có ích gì cho người Việt ngày nay?
Biết chữ Hán giúp hiểu sâu nghĩa từ Hán Việt, viết chính tả chính xác hơn và đọc được di sản như văn bia, gia phả, câu đối. Nó cũng là nền tốt khi học tiếng Trung, tiếng Nhật hay tiếng Hàn.